Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngoại Khoa - Bỏng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngoại Khoa - Bỏng. Hiển thị tất cả bài đăng

BỎNG

Tác nhân gây bỏng có nhiều loại:

- Bỏng do nhiệt thường gặp nhất, chia thành 2 nhóm: do nhiệt khô (lửa, tia lửa điện, kim loại nóng chảy...) và do nhiệt ướt (nước sôi, thức ăn nóng sôi, dầu mỡ sôi, hơi nước nóng...)

- Bỏng do dòng điện chia thành 2 nhóm: do luồng điện có hiệu điện thế thông dụng (<1000v)>1000V). Sét đánh cũng gây bỏng do luồng điện có hiệu điện thế cao.

- Bỏng do hóa chất gồm các chất oxy hóa, chất khử oxy, chất gặm mòn, chất gây độc cho bào tương, chất làm khô, chất làm rộp da... Trong thực tế lâm sàng chia thành 2 nhóm: nhóm acid và nhóm chất kiềm. Bỏng do vôi tôi nóng là loại bỏng vừa do sức nhiệt vừa do chất kiềm.

- Bỏng do các bức xạ: tia hồng ngoại, tia tử ngoại, tia Rơnghen, tia laser, hạt cơ bản b , g .

Lâm sàng:

- Viêm da cấp do bỏng (viêm vô khuẩn cấp): bỏng độ I.

- Bỏng biểu bì: bỏng độ II

- Bỏng trung bì thường gọi là bỏng trung gian, bỏng độ II sâu, bỏng độ III, bỏng độ IIIA, bỏng độ III nông.

- Bỏng toàn bộ lớp da còn gọi là bỏng độ III, IIIB, III sâu, bỏng độ IV). Hoại tử ướt, hoại tử khô.

- Bỏng sâu các lớp dưới da còn gọi là bỏng độ III, III sâu, độ IV sâu dưới lớp cân, độ IV, độ V, độ VI, độ VII.

Có nhiều cách tính diện tích bỏng, trong thực tế lâm sàng, để dễ nhớ, dễ tính, thường kết hợp các cách sau:

- Phương pháp con số 9: đầu mặt cổ 9%, 1 chi trên 9%, ngực bụng 18%, lưng 18%, 1 chi dưới 18%, bộ phận sinh dục và tầng sinh môn 1%.

- Phương pháp dùng bàn tay ướm (bàn tay người bị bỏng): tương ứng với 1% hoặc 1,25% diện tích cơ thể người đó.

- Phương pháp tính theo con số 1, 3, 6, 9, 18: diện tích khoảng 1%: gan bàn tay (hoặc mu), cổ, gáy, tầng sinh môn - sinh dục ngoài; diện tích khoảng 3%: bàn chân, da mặt, da đầu, cẳng tay, cánh tay, mông (một); diện tích khoảng 6%: cẳng chân, 2 mông; diện tích khoảng 9%: đùi, chi trên; diện tích khoảng 18%: chi dưới, lưng - mông, ngực - bụng.

Xử trí:

- Khi bị bỏng, cần tìm mọi cách để sớm loại trừ tác nhân gây bỏng (dập lửa, cắt cầu dao điện...). Ngay sau khi bị bỏng, ngâm vùng ngay vào nước lạnh (16-20oC hoặc dưới vòi nước chảy từ 20-30'. Nếu chậm ngâm lạnh, sẽ ít tác dụng. Nếu bỏng do hóa chất thì phải rửa các hóa chất bằng nước và chất trung hòa. Bǎng ép vừa phải các vết thương bỏng để hạn chế phù nề, thoát dịch huyết tương. Cho uống nước chè nóng, nước đường, Oresol..., thuốc giảm đau. ủ ấm nếu trời rét. Vận chuyển nhẹ nhàng, tránh va chạm gây thêm đau.

- Đối với bỏng mắt, cần xử trí kịp thời để bảo vệ mắt: rửa mắt nhiều lần bằng nước lạnh sạch, vô khuẩn và gửi đến chuyên khoa mắt.

- Cần chẩn đoán sớm diện bỏng và độ sâu của bỏng để xử trí phù hợp. Có thể dùng chỉ số Frank để tiên lượng bỏng: cứ 1% diện bỏng nông là 1 đơn vị, 1% diện bỏng sâu là 3 đơn vị. Khi chỉ số Frank từ 30-70 là sốc nhẹ, từ 70-100: sốc vừa, trên 110: sốc nặng và rất nặng. Đối với trẻ em và người già dù diện bỏng không lớn (<10%>

- Điều trị sốc bỏng ở bệnh viện cơ sở cần tiến hành ở buồng hồi sức cấp cứu. Phục hồi kịp thời và đủ khối lượng máu lưu hành hữu hiệu bằng cách truyền dịch theo đường tĩnh mạch (dịch keo, dịch điện giải, huyết thanh ngọt đẳng trương). Có thể dùng cách tính: dịch mặn đẳng trương 1ml x kg thể trọng x diện bỏng %; dịch keo 1ml x kg thể trọng x thể trọng x diện bỏng % và cộng với 2000ml dịch glucose 5%.

Cách tính thuận lợi cho ứng dụng lâm sàng: trong 24 giờ đầu lượng dich truyền chữa sốc bỏng không quá 10% thể trọng. Liều truyền trong 8 giờ đầu từ 1/2-1/3 liều, 16 giờ sau: 1/3-1/2 liều. Trong ngày thứ 2 và thứ 3 (nếu còn sốc), lượng dịch truyền chữa sốc bỏng không quá 5% thể trọng bệnh nhân (cho mỗi ngày).

- Nếu vô niệu, dùng thuốc lợi niệu lasix, manitol, nếu bị toan chuyển hóa, dùng dung dịch kiềm natri bicarbonat.

Sau khi thoát sốc, điều trị toàn thân, chống nhiễm độc bỏng cấp, dự phòng và điều trị nhiễm khuẩn tại vết bỏng và toàn thân, nâng cao sức chống đỡ của cơ thể bằng truyền máu, dùng kháng sinh, nuôi dưỡng, dự phòng và điều trị các biến chứng.

- Tại vết bỏng: bỏng nông: dùng thuốc tạo màng (cao vỏ xoan trà, lá sim, sến, tràm, củ nâu...) sau khi làm vô khuẩn. Nếu bỏng sâu, từ tuần thứ 2 dùng thuốc rụng hoại tử, dung dịch kháng khuẩn, khi có mô hạt mổ ghép da các loại, dùng thêm bǎng sinh học, da nhân tạo nếu bỏng sâu, diện rộng. Với bỏng sâu, diện không lớn mà trạng thái cơ thể bệnh nhân tốt, có thể mổ cắt bỏ hoại tử và ghép da sớm ở các cơ sở chuyên khoa.

- Với các di chứng bỏng (sẹo xấu, sẹo dính, sẹo lồi, sẹo co kéo, loét lâu liền...) cần được điều trị sớm bằng phẫu thuật tạo hình để phục hồi chức nǎng và thẩm mỹ. Các sẹo bỏng nứt nẻ, loét nhiễm khuẩn kéo dài cần được mổ ghép da để tránh bị ung thư da trên nền sẹo bỏng.

theo http://www.cimsi.org.vn
Read On 0 nhận xét

Khi thảm họa bỏng hàng loạt xảy ra, xử lý như thế nào?

Bài viết này của Haberal M. (2006), “Guideline for dealing with disasters involving large numbers of intensive burns”, Burns, December, Vol.32, pp. 933 – 939.đăng trên tạp chí Bỏng thế giới. Nội dung bài viết này giới thiệu hướng dẫn của Hội Bỏng Thế giới về xử lý thảm hoạ bỏng.

Mỗi quốc gia nên/cần phải có kế hoạch riêng để đối phó với thảm hoạ. Hướng dẫn này đưa ra các khái niệm cơ bản nhằm trang bị cho nhân viên y tế cũng như các quan chức chính phủ hoạt động trong lĩnh vực đáp ứng thảm hoạ.

Chăm sóc bệnh nhân bỏng, bao gồm cả các trường hợp phức tạp do các chấn thương khác gây nên đòi hỏi phải có các chuyên gia được đào tạo cơ bản cũng như có sự cung cấp đầy đủ các trang thiết bị. Việc cung cấp đủ trang thiết bị không phải lúc nào cũng thực hiện được, nhiều khi không thể thực hiện được ở các mức độ và ở các cơ sở y tế khác nhau.

Tuy nhiên, sẽ là rất quan trọng nếu có sự chuẩn bị chu đáo một số lượng tối thiểu các trang thiết bị và thuốc men ở mức có thể. Cần có sự chuẩn bị cẩn thận các cơ số dự trữ đồng thời phải tránh được sự lãng phí. Mỗi địa phương của quốc gia cần xác định cụ thể nơi lưu trữ các cơ số này để dễ dàng cung cấp và hoạt động khi cần.

Những tiến bộ mới hiện nay cho phép có thể cứu sống và tái hoà nhập xã hội những bệnh nhân bỏng nặng và rất nặng. Điều này cần được tiến hành và phát triển ngay cả khi xảy ra thảm hoạ với nhiều nạn nhân bỏng.

Theo định nghĩa, thảm hoạ là tình trạng ngoại lệ trong khi điều trị bỏng cần theo những chuẩn hoá nhưng nếu có sự chuẩn bị tốt thì việc điều trị bỏng có thể tiến hành tốt với ngoại lệ lẫn chuẩn hoá.

Hai vấn đề cơ bản cho lập kế hoạch chống thảm hoạ là:
1. Có kế hoạch cung cấp đủ các trang thiết bị y tế, thuốc men để điều trị kịp thời cho bệnh nhân
2. Đảm bảo việc sử dụng hiệu quả tối đa các trang thiết bị và thuốc men này.

Phân loại các trang thiết bị y tế cần thiết cho cấp cứu và điều trị bệnh nhân bỏng trong thảm hoạ
Việc cấp cứu bước đầu và phân loại đúng nạn nhân đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng đến các giai đoạn điều trị tiếp theo.
Quá trình điều trị bỏng có thể phân loại thành các giai đoạn sau:
1. Sơ cứu và phân loại tổn thương bỏng
2. Phân loại và hồi sức
3. Kiểm soát nhiễm trùng – phẫu thuật (giai đoạn tái tạo)
4. Hồi phục – phục hồi chức năng

Trên cơ sở 4 giai đoạn nêu trên, các trang thiết bị cho đáp ứng với thảm hoạ có thể phân chia thành 3 loại:
- Loại A: các trang thiết bị chỉ phục vụ cho hồi sức;
- Loại B: các trang thiết bị phục vụ cho hồi sức và sau hồi sức;
- Loại C: các trang thiết bị phục vụ chỉ cho phục hồi chức năng, giải phóng co kéo

Đó là hệ thống chức năng không riêng cho cơ sở y tế nào nhưng phụ thuộc vào vị trí, khả năng cung cấp trang bị của từng bệnh viện. Ví dụ như trung tâm bỏng lớn có đầy đủ trang thiết bị để đối phó với thảm hoạ nhưng bị hỏng hệ thống điện hoặc hệ thống cung cấp nước thì chỉ có thể đảm nhận được các trang thiết bị cho loại A mà thôi. Hoặc nếu trung tâm bỏng ở cách quá xa nơi xảy ra thảm hoạ hàng trăm km thì có thể phải chẩn bị trang thiết bị cho loại B nếu như có phương tiện vận chuyển tốt như máy bay trực thăng chẳng hạn.

Trong việc đối phó với thảm hoạ bỏng, việc tăng cường nguồn nhân lực và vật lực nhất là các trang bị phục vụ cho phẫu thuật cắt hoại tử, ghép da và labo xét nghiệm, đặc biệt là cấy khuẩn có vai trò rất quan trọng trong trang thiết bị loại B.

Nếu có bệnh viện đa khoa mà chưa có chuyên khoa bỏng ở ngay gần nơi xảy ra thảm hoạ và nếu điều kiện cho phép thì nên triển khai theo dạng loại B hoặc C vì đối với nạn nhân bỏng, công tác điều trị cần được tiến hành khẩn trương, đồng bộ không nên để cho nạn nhân phải trải qua quá trình chuyển vận trong thời gian dài. Việc phối kết hợp giữa các cơ sở y tế, giữa các quốc gia có thể giúp để triển khai loại hình điều trị này nhanh hơn.

3. Dòng sơ tán nạn nhân bỏng (Flow of evacuees)
Phần này đề cập đến dòng chuyển của bệnh nhân bỏng tới các cơ sở điều trị với các loại hình trang thiết bị khác nhau. Bắt đầu từ sơ cứu và phân loại nạn nhân bỏng tại nơi thảm hoạ, tiếp đó là chuyển vận bệnh nhân tới các sơ sở điều trị phù hợp với tình trạng và mức độ tổn thương của từng bệnh nhân.
3.1. Sơ cứu và phân loại
Một trong những phần quan trọng nhất của đáp ứng thảm hoạ bỏng là tổ chức việc sơ tán nạn nhân ra khỏi vùng nguy hiểm một cách nhanh chóng và phù hợp.

Có thể có nhiều chấn thương xảy ra đối với lực lượng cứu hộ khi đang tìm cách tiếp cận và sơ cứu nạn nhân bỏng, các nhân viên y tế, nhân viên cứu hoả và những người giúp tự nguyện cần tuân thủ theo các chỉ dẫn và mệnh lệnh về sơ cứu:
+ Cẩn thận khi tìm cách đưa nạn nhân ra khỏi nơi thảm hoạ, không được kéo hoặc kéo lê nạn nhân đang bị thương
+ Nếu bị bắt lửa, tìm cách dập tắt lửa bằng dập lửa, lăn vòng tròn, dùng chăn dập lửa hoặc dội nước, tháo bỏ các đồ trang sức, quần áo cháy.
+ Nếu bị bỏng nước sôi, quần áo là nơi lưu giữ sức nhiệt do vậy nên cởi bỏ. Không được lột quần áo nạn nhân, cần cắt và lấy bỏ cẩn thận.
+ Nếu nạn nhân bất tỉnh cần khai thông đường thở, cố định cột sống nếu nghi ngờ chấn thương cột sống
+ Trấn an, động viên nạn nhân
+ Làm lạnh bề mặt vết bỏng bằng dòng nước ở nhiệt độ 8 – 250C (lý tưởng là 150C) trong vòng 30 phút hoặc bằng các tác nhân làm lạnh đặc biệt khác. Không được dùng nước đá vì có thể làm tăng độ sâu tổn thương. Theo dõi thân nhiệt để dự phòng hạ thân nhiệt ở trẻ em và bệnh nhân bỏng diện rộng.
+ Ủ ấm nạn nhân bằng chăn, mền, khăn cho đến khi nhân viên y tế đến
Sau khi hoàn thành việc sơ tán khỏi nơi thảm hoạ và sơ cứu nạn nhân, cần tập trung vào phân loại mức độ bỏng. Cũng giống như các cấp cứu khẩn cấp khác, việc phân loại mức độ bỏng cần được tiến hành ngay tại chỗ và công tác hồi sức cần được tiến hành ngay lập tức. Các bệnh nhân sau đó phải được phân loại và chuyển vận về các cơ sở điều trị phù hợp với mức độ bệnh lý càng sớm càng tốt.

Khái niệm “phân loại – Triage” có nghĩa là tìm ra các ưu tiên hàng đầu với mục đích là để xử lý kịp thời và đảm bảo an toàn tối đa cho nạn nhân, tạo ra môi trường đáp ứng phù hợp và chăm sóc nạn nhân ngay tại nơi thảm hoạ cho đến khi được chuyển vận tới các cơ sở y tế phù hợp. Trạm phân loại này đưa ra các quyết định điều trị và chăm sóc khác nhau cho các nạn nhân tuỳ thuộc và mức độ tổn thương, đồng thời nhóm phân loại còn giúp thu xếp chuyển vận hợp lý cho từng nạn nhân bỏng.

3.2. Bệnh viện tuyến A (trang bị loại A)
Trạm cấp cứu tại các lều ở khu vực thảm hoạ hoặc ở các tại tỵ nạn hoặc ở các khoa cấp cứu của các bệnh viện đa khoa ở trong hoặc gần nơi thảm hoạ xảy ra có thể trở thành các cơ sở y tế với trang bị loại A.

Vị trí của cơ sở này tốt nhất có thể tiếp cận bằng đi bộ hoặc ở tương đối gần đường bộ và càng gần nơi thảm hoạ càng tốt. Có thể có trường hợp cơ sở loại A chỉ hoạt động như là một trạm phân loại và ít xử lý trên nạn nhân, các trường hợp khác đều có khả năng cấp cứu và điều trị các trường hợp bỏng nặng và có thể kéo dài vài ngày để hết thời kỳ hồi sức bệnh nhân.

Nếu có thể, một vài cơ sở phải di chuyển, lưu động được tới gần nơi thảm hoạ một cách nhanh nhất để tiến hành cấp cứu tối khẩn cấp các chức năng sống của nạn nhân bỏng.
Tại cơ sở loại A, bệnh nhân bỏng cần được phân loại để điều trị như sau:
- Loại 1: Bỏng nhẹ
- Loại 2: Bỏng trung bình – Bệnh nhân phải điều trị chuyên khoa nhưng không cần phải hồi sức
- Loại 3: Bỏng nặng – Bệnh nhân phải được hồi sức và điều trị chuyên khoa
Tất cả các bệnh nhân tại tuyến A được phân loại, chuyển vận về tuyến B hoặc C. Tuyến A giữ lại điều trị chủ yếu là hồi sức bệnh nhân sau đó chuyển về tuyến B hoặc C nơi có trang bị và nhân lực phù hợp với điều trị chuyên khoa bỏng.

Bệnh nhân loại 3 – nặng và rất nặng: cần được các bác sỹ chuyên khoa điều trị bằng hồi sức hô hấp, hồi sức dịch thể. Tại tuyến A, công tác hồi sức chủ yếu là duy trì đường thở, thiết lập, cố định và duy trì đường truyền dịch. Cần theo dõi sát hô hấp, nếu có chỉ định thì đặt nội khí quản nhằm tránh biến chứng suy hô hấp trên đường vận chuyển. Những bệnh nhân bất tỉnh, nghi ngờ bỏng hô hấp cần được thở oxy lưu lượng cao nhằm giảm dần mức nhiễm độc CO trong máu.

Đường truyền lớn cần được thiết lập và cố định tốt tại các tĩnh mạch lớn vùng da không bỏng hoặc vùng bỏng nếu thấy cần thiết. Nếu không đặt được ven ngoại vi, cần phải đặt tĩnh mạch trung tâm hoặc bộc lộ tĩnh mạch. Sau khi thiết lập được đường truyền dịch, cần đặt sonde dẫn lưu nước tiểu, sonde dạ dày để kiểm soát và theo dõi cân bằng dịch thể.

Trong thời gian chuyển vận tới bệnh viện tuyến B, bệnh nhân cần được chăm sóc chu đáo, ủ ấm dự phòng hạ thân nhiệt. Danh sách kiểm tra các bước trong quy trình chuyển vận được thể hiện ở phụ lục A. Hồ sơ bệnh lý của bệnh nhân cần được lưu giữ và bàn giao bản sao khi chuyển vận nhằm giúp cho theo dõi bệnh nhân tốt hơn và đơn giản hơn.

Bệnh nhân bỏng loại 2 – trung bình: bao gồm cả các bệnh nhân bỏng sâu vùng mặt và bàn tay có thể được xử lý sơ bộ vết thương tại tuyến A sau đó có thể đưa đến các lều bạt của trại tỵ nạn để nghỉ ngơi, ủ ấm, ăn uống, vệ sinh trước khi được chuyển đến tuyến B hoặc C.

Bệnh nhân bỏng loại 1 – nhẹ: được xử lý vết bỏng, thay băng sau đó đưa về các trại, lều để nghỉ ngơi và điều trị tiếp theo như là bệnh nhân ngoại trú tại các bệnh viện đa khoa hoặc là các trạm y tế gần nhất.

3.3. Bệnh viện tuyến B (trang bị loại B)
Chức năng chính của tuyến này ở giai đoạn đầu sau thảm hoạ là đảm bảo công tác hồi sức bệnh nhân bỏng một cách đầy đủ và hiệu quả. Vào tuần thứ hai sau thảm hoạ, nhiệm vụ chính của trung tâm này là điều trị chuyên khoa bỏng với sự đầu tư vào chống nhiễm khuẩn, phẫu thuật và ghép da. Phần lớn bệnh nhân bỏng ở tuyến này đều được chuyển từ tuyến A đến hoặc một số từ tuyến B khác đến khi bị quá tải.

Trong tuần đầu thảm hoạ, cần tăng cường bác sỹ, điều dưỡng và các chuyên gia hồi sức bỏng nặng cho các bệnh viện tuyến B. Từ tuần thứ hai, cần tăng cường các phẫu thuật viên và bác sỹ tạo hình. Để kiểm soát được tình trạng nhiễm trùng, cần tăng cường và cung cấp đủ cho các labo xét nghiệm. Cần phải có một đội ngũ nhân viên có đủ kinh nghiệm và được đào tạo cơ bản để hỗ trợ cho vùng thảm hoạ. Hội bỏng và thảm hoạ quốc gia có thể giúp đỡ lực lượng này về huấn luyện và đào tạo.

Nếu có trung tâm bỏng ở ngay cạnh vùng xảy ra thảm hoạ, cần huy động để đảm trách như là bệnh viện tuyến B để có thể điều trị số lượng lớn bệnh nhân bỏng. Nếu trường hợp bệnh viện tuyến B quá tải, có thể bố trí chuyển bớt bệnh nhân về bệnh viện tuyến C.

3.4. Bệnh viện tuyến C
Bệnh viện tuyến này thường bố trí ở ngoài vùng thảm hoạ, bắt đầu nhận bệnh nhân từ tuần thứ hai sau thảm hoạ bỏng. Tuyến C là nơi điều trị thực thụ những bệnh nhân bỏng sâu, diện rộng đã được hồi sức thành công ở tuyến trên và đòi hỏi phải phẫu thuật cũng như phục hồi chức năng.

Bệnh viện tuyến này nhất thiết phải có trung tâm bỏng hoặc ít ra phải có bác sỹ và điều dưỡng chuyên khoa bỏng và có thể không cần phải hỗ trợ từ bên ngoài. Bệnh viện tuyến C có thể được bố trí ở nơi xa thảm hoạ, thậm chí là ở nước khác, lúc này cần có sự hợp tác quốc tế giữa các quốc gia, các tổ chức và giữa các hội bỏng và thảm hoạ với nhau. Đồng thời khi đã có sự hợp tác quốc tế, hệ thống chuyển vận cần có sự thống nhất, hệ thống bảo hiểm cũng cần có sự liên thông giữa các nước.

3.5. Lập kế hoạch chuyển vận bệnh nhân
Sơ đồ 1 miêu tả kế hoạch chuyển vận bệnh nhân bỏng từ vùng thảm hoạ tới các tuyến khác nhau. Trong thời kỳ hồi sức (những ngày đầu sau thảm hoạ), phần lớn sự chuyển vận là từ tuyến A đến tuyến B và một số bệnh nhân có thể được chuyển từ tuyến B đến nơi khác.

Như đã đề cập ở trên, trong phiếu chuyển vận, tất cả các số liệu về bệnh nhân cần phải được điền đầy đủ trước khi thực hiện vận chuyển. Trong vòng1 -22 tuần sau thảm hoạ, có hai vấn đề lớn về mặt tổ chức cứu chữa bệnh nhân tại các tuyến. Một là việc thiết lập và duy trì trung tâm điều trị dạng tuyến B hoặc C gần nơi thảm hoạ, hai là tổ chức chuyển vận bệnh nhân từ các vùng xa tới các cơ sở điều trị thông qua hệ thống chuyển vận đã được xác lập.

Cả hai quá trình này đòi hỏi phải có sự tham gia của các chuyên gia bỏng. Các chuyên gia bỏng, phần lớn các nhân viên y tế tăng cường và các trang thiết bị hỗ trợ cho thảm hoạ cần được bố trí tại các bệnh viện hoặc nơi tiếp nhận và điều trị bệnh nhân bỏng. Khi chuyển vận, bệnh nhân bỏng cần được đưa đến nơi điều trị bỏng thực thụ với bác sỹ chuyên khoa và có đủ trang thiết bị cần thiết.

4. Huy động nhân lực và trang bị đáp ứng với thảm hoạ bỏng hàng loạt
Phần này thảo luận về kế hoạch bổ sung cho bệnh viện về nhân lực yế và các trang thiết bị để đối phó với thảm hoạ bỏng hàng loạt. Trong đáp ứng với thảm hoạ, điều cần thiết là phải thu hẹp khoảng cách giữa khả năng sẵn có và nhu cầu lý tưởng trong điều kiện thảm hoạ xảy ra bằng sự huy động nội lực lẫn hỗ trợ từ bên ngoài.

4.1. Huy động ở tuyến A
Sự huy động ở tuyến A tuỳ thuộc và hoàn cảnh và nhiệm vụ của tuyến này được giao cũng như thời gian sẽ thực hiện ở tuyến này. Như đã đề cập ở trên, có những tuyến A làm nhiệm vụ như là trung tâm phân loại lớn và bệnh nhân chỉ lưu lại ở đây trong thời gian ngắn. Sự hợp lý thể hiện ở chỗ bố trí chuyên gia hồi sức và phẫu thuật ngoại chung ngay tại tuyến này.

Các bác sỹ chuyên khoa bỏng nên được bố trí tại tuyến B để tiếp nhận và điều trị những bệnh nhân được chuyển đến từ các trạm phân loại. Ngược lại, nếu bệnh viện tuyến A là bệnh viện đa khoa được bố trí để tiếp nhận và điều trị bệnh nhân bỏng cho đến khi kết thúc giai đoạn hồi sức, thì cần được bổ sung các chuyên gia điều trị bệnh nhân bỏng nặng có khả năng đảm nhận nhiệm vụ hồi sức bao gồm thiết lập và xác định tốc độ truyền dịch, chỉ định đặt nội khí quản, thay băng, chăm sóc vết bỏng, đắp thuốc tại chỗ, theo dõi và điều trị đến khi ổn định và chuyển vận bệnh nhân.
Phụ lục B liệt kê danh sách các trang thiết bị tối thiểu phục vụ cho công tác cấp cứu 5 bệnh nhân bỏng nặng.

Như đã đề cập ở trên, một trong những nhiệm vụ rất quan trọng của tuyến A là chuẩn bị mọi mặt và tổ chức hệ thống chuyển vận bệnh nhân (sau khi đã sơ cứu, phân loại) tới tuyến B hoặc tuyến C càng nhanh càng tốt.

Điều này đỏi hỏi phải có hệ thống chuyển vận rất hiệu quả. Trong tình huống có thảm hoạ, nhất thiết phải xác định được nhu cầu phải có bao nhiêu xe vận chuyển bệnh nhân và tổ chức nào, bệnh viện nào có trách nhiệm vận chuyển bệnh nhân. Nếu phải chuyển vận bệnh nhân từ các vùng xa thì tốt nhất nên huy động máy bay trực thăng

4.2. Huy động ở tuyến B
Việc bổ sung tăng cường cho tuyến B hoặc C tuỳ thuộc vào số lượng bệnh nhân phải tiếp nhận và tình trạng hiện tại của cơ sở điều trị. Các trung tâm bỏng có thể đã có sẵn các phương tiện và nhân lực nhưng cũng nên cần được bổ sung thêm các phẫu thuật viên và điều dưỡng. Các bệnh viện đa khoa chưa có khoa bỏng, nên bổ sung thêm trang bị và các chuyên gia điều trị bỏng nặng.

5. Vai trò của hội bỏng quốc gia trong việc đáp ứng với thảm hoạ
Ở các nước chưa có lực lượng cứu hộ cháy nổ đặc biệt, hội bỏng có vai trò rất quan trọng. Đây là tổ chức duy nhất nhận định, nắm bắt một cách khoa học, chính xác, đưa ra các quyết sách hợp lý về mặt y tế trong đáp ứng với thảm hoạ bỏng hàng loạt. Chức năng của hội bỏng trong trường hợp này là:
+ Cung cấp sơ đồ và danh sách các trung tâm y khoa và các cơ sở y tế có khả năng tham gia
+ Lập kế hoạch đối phó thảm hoạ với danh sách các nhu cầu trang thiết bị phục vụ cho thảm hoạ. Khảo sát tình hình thực tế tại các cơ sở y tế sẽ tham gia đáp ứng thảm hoạ bao gồm nhân lực và trang thiết bị y tế, khả năng điều trị của từng cơ sở là bao nhiêu bệnh nhân. Danh sách các chuyên gia bỏng có thể tham gia và cử đến vùng thảm hoạ.
+ Liên hệ với các bộ, ngành của chính phủ về việc tổ chức, phân bổ sự bổ sung trang bị, chuyên gia tới từng cơ sở điều trị thảm hoạ
+ Tổ chức đào tạo lại các kiến thức cơ bản trong cấp cứu thảm hoạ bỏng
+ Duy trì trung tâm xử lý thảm hoạ bỏng để tiếp nhận thông tin và điều phối hợp lý các tình huống.
+ Tư vấn cho cơ quan có trách nhiệm về các phương án xử lý tình huống dựa trên các thông tin thu được.
+ Thu nhận và gửi các thông tin về các nhu cầu cần bổ sung của các sơ sở y tế tham gia xử lý thảm hoạ tới cơ quan có trách nhiệm.

Hội bỏng của mỗi quốc gia nên có kế hoạch sẵn sàng đối phó với thảm hoạ bỏng hàng loạt cũng như tạo ra một hệ thống liên lạc thuận tiện sẵn có giữa các bệnh viện và hội bỏng. Hội bỏng và uỷ ban xử lý thảm hoạ Quốc gia cũng cần phải có kế hoạch hành động cho tình huống thảm hoạ bỏng hàng loạt vượt quá khả năng đáp ứng của Quốc gia đó.

Rất cần thiết khi biết được quốc gia nào, hội bỏng nào và tổ chức quốc tế nào có thể giúp đỡ trước khi thảm hoạ xảy ra. Cần phải đảm bảo hệ thống thông tin liên lạc, tiến hành các diễn tập thường xuyên.

Phiếu chuyển bệnh nhân

Tên trạm phân loại hoặc sơ cứu
.....................................................................................
Thông tin bệnh nhân Họ và tên:………………………...........……………
Giới tính: € Nam € Nữ

Tuổi: .......................Cân nặng (kg)…….....................
Chuyển tới
.....................................................................................
Người chịu
trách nhiệm
Họ tên và chữ ký
....................................................................................
Thời điểm chuyển
Ngày/tháng/năm
/…/…/

Thời điểm ..….…..............................................
Diện tích bỏng
Tổng diện tích bỏng: …….%
(ghi ký hiệu độ sâu bỏng)
Bỏng hô hấp
€ không € có thể € có
Chấn thương khác
€ có € không

(Mô tả ………………………………….……………
Ý thức
€ Tỉnh € lơ mơ € ngủ gà € hôn mê
Tổng lượng dịch truyền
Tổng ( ) ml (uống + truyền dịch)
Lượng dịch truyền ( ) ml
Thời gian ( ) (thời gian truyền dịch)
Dịch truyền
Ringerlactat ( ) ml
Natrichlorua ( ) ml
Dịch khác ( ) ml
Đặt nội khí quản
€ có € không
Mode thở máy
€ Tự nhiên € Hỗ trợ € kiểm soát
Thở Oxy
€ có € không
(Theo http://www.vienbongquocgia.org.vn)
Read On 0 nhận xét

Bỏng

Bỏng là một vấn đề thường gặp trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Hậu quả của bỏng rất lớn, vì vậy cần hiểu và chú ý xử trí đúng nhằm hạn chế biến chứng của nó gây ra

Đại cương

Tổn thương do các hoá chất gây ra khi tác dụng trên da và niêm mạc phụ thuộc vào:

- Đặc tính hoá học và vật lý của hoá chất.

- Nồng độ hoá chất.

- Thời gian tác dụng.

- Đặc điểm vùng cơ thể bị.

- Cách thức và thời gian được cứu chữa kỳ đầu.

Trong thời bình, tỷ lệ bỏng hoá chất chiếm khoảng 5-6% trong các loại bỏng. Trong quân đội và trong chiến tranh còn bị bỏng do các nhiên kiệu lỏng của tên lửa và các hoá chất quân sự gây loét rộp da. Một số hoá chất khi tác dụng trên da và niêm mạc còn ngấm theo đường mạch máu vào cơ thể và có thể dẫn tới tử vong.

Các hoá chất gây tổn thương bỏng gồm:

- Dung dịch các axit mạnh.

- Muối một số kim loại nặng.

- Dung dịch các chất bazơ mạnh.

I. BỎNG AXIT:

Thường gặp bỏng do 2 nhóm chính: axit kim loại và axit hữu cơ.

A. Cơ chế gây bỏng:

Khi axit tiếp xúc với da sẽ làm ngưng kết protein của mô và hút nước của tế bào, hoá hợp với protein thành protein axit. Nồng độ axit càng đậm đặc và thời gian tiếp xúc kéo dài thì hiện tượng ngưng kết càng nhanh và mạnh, bỏng càng sâu.

B. Đặc điểm lâm sàng:

1. Đau rát, nóng khi bị. Trạng thái đau xuất hiện muộn. Nếu là các dung dịch axit loãng, đau kéo dài vài ngày.

2. Tổn thương bỏng thường xuất hiện dưới hình thể các vết mầu khác nhau tuỳ loại axit.

- Bỏng axit H2SO4 mầu xám rồi thành mầu nâu.

- Bỏng HNO3 lúc đầu mầu vàng rồi chuyển thành mầu sẫm.

- Bỏng HCL mầu vàng nâu.

- Bỏng axit Tricloroaxetic: mầu trắng.

- Bỏng axit Flohydric: mầu đỏ với hoại tử ở trung tâm.

- Bỏng axit Phenic: mầu xanh sẫm hoặc mầu vàng đỏ

3. Tổn thương bỏng axit có hình giọt nước chảy hoặc vết mực rơi hoặc thành một đám hoại tử khô. Vết bỏng lúc đầu không có viền viêm đỏ bao quanh, nhưng từ ngày thứ 12 trở đi xuất hiện viêm xung huyết phù nề bao quanh.

4. Bỏng nông do axit: ngày thứ 4-10 lớp hoại tử của thượng bì sẽ bong, lộ một nền biểu mô non hoặc mô hạt có các đảo biểu mô. Da non hoặc sẹo bỏng mầu hồng hoặc thẫm màu hơn da lành. Bỏng trung bì thường dễ lành sẹo lồi.

5. Bỏng sâu do axit: Khi khám thấy vết bỏng lõm xuống so với vùng da lành xung quanh. Vết bỏng mất cảm giác hoàn toàn, phù nề phất triển mạnh và kéo dài.

Hoại tử bỏng rụng từ ngày thứ 18-30 trở đi. Mô hạt hình thành.

6. Một số axit gây độc cho cơ thể như axit focmic, axit cromic, axit muriatic, axit sunfuric.

C. Cách sử trí và điều trị:

Phải được tiến hành ngay sau khi bị bỏng:

- Nếu axit dính vào quần áo và giầy dép nhanh chóng cởi bỏ quần áo vào giầy dép.

- Dùng nhiều nước lạnh dội lên vùng bỏng hoặc ngâm vùng bỏng vào nước để hoà loãng nồng độ axit vơí thời gian trên 10-15 phút và nếu bị bỏng do axit hydroflohydric thì ngâm rửa nước lạnh phải dài thời hạn hơn, sau đó dùng thuốc để trung hoà.

- Trung hoà axit bằng dung dịch Natri bicacbonat 10-20%, nước xà phòng, nước vôi nhì 5% có thể dùng bột phấn viết, xà phòng đánh răng, bột hydroxyt magie rắc hoặc xoa trên tổn thương bỏng.

Đối với một số loại axit: sau khi dùng dung dịch kiềm:

- Axit hydroflohydric: dùng bột Sulphat magie rắc vào vết bỏng và tiêm canxi glueonat vào vết bỏng và tiêm canxi glueonat vào dưới vết bỏng.

- Axit cacbolic: dùng dầu thảo mộc, glycerin, rượu cồn.

- Axit phenic, phenol: dùng dầu thảo mộc băng lại.

Nếu bệnh nhân uống phải axit thì xúc miệng bằng Natricacbonat 5% sau đó cho uống nước lòng trắng trứng gà, số lượng tuỳ theo lượng axit uống vào nhiều hay ít. Không nên uống Natricacbonat 5% có thể gây chướng khí làm giãn dạ dày cấp hoặc có thể thủng dạ dày và ống tiêu hoá.

Cũng không nên đặt thông vào dạ dày để rửa vì có thể làm thủng dạ dày.


II. BỎNG BAZƠ:

A. Cơ chế gây bỏng:

1.Làm tan rã protein các mô và kết hợp với các protein đã bị lỏng ra thành proteinat kiềm.

2. Tạo ra một quá trình xà phòng hoá với các chất béo của một tế bào cơ thể.

- Vôi sống (CaO) khi gặp nước (H2O) tạo thành vôi tôi Ca(OH)2 quá trình phản ứng nhiệt (nhiệt độ tới 150oc) và vôi tôi là một bazơ mạnh (pH: 13,1).

- Amonihydroxit (NH4OH: khi hít thở nhiều khí amoniac (NH3) sẽ hội chứng phù nề thanh khí quản và dẫn tới phù phổi cấp.

B. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG:

a.
Hình thái tổn thương hay gặp:

1. Nốt phồng trên nền da xung huyết, phù nề.

2. Hoại tử ướt màu xám.

3. Bỏng nông và bỏng sâu xen kẽ.

4. Đau nhức kéo dài, biến chứng nhiễm khuẩn, viêm mủ thường gặp nhiễm khuẩn mủ xanh.

b. Triệu chứng toàn thân:

1. Ngay sau khi bỏng phải rửa hoặc ngâm vào nước sạch để hoà loãng nồng độ bazơ.

2. Sau khi dùng nước rửa, sử dụng các dung dịch axit như axit axetic 6%, dung dịch amoniclorua (NH4Cl) 5%, axit boric. Nếu không có dung dịch trên dùng nước dấm, nước chanh, nước đường 20%.

Bỏng do vôi tôi: sau khi dùng dung dịch axit boric 3% để rửa phải dùng dung dịch amoniclorua 10% rửa sạch các vết vôi tôi còn sót lại. Sau đó băng bằng axit boric 3%.

3. Điều trị toàn thân. Cần điều trị dự phòng sốc, lợi niệu, kháng sinh liều cao, truyền máu dịch thể.

III. MỘT SỐ LOẠI BỎNG KHÁC:

Bỏng do nhựa đường nóng: Dùng hỗn hợp dầu thảo mộc (3 phần) và dầu hoả (1 phần) để lau rửa sạch nhựa đường nóng lỏng dính vào da. Lau vùng mặt, cổ, ngực để người bị bỏng dễ thở rồi lau tiếp các vùng khác.



(Theo benhhoc.com)


Read On 0 nhận xét

Điều trị sốc bỏng

Việc cấp cứu, điều trị dự phòng và mđiều trị sốc bỏng phải được tiến hành khẩn trương, đầy đủ từ tuyến cơ sở đến bệnh viện chuyên khoa.

I. Tại các tuyến cơ sở:
Sau khi sơ cứu bỏng cần : Đánh giá chung tình trạng toàn thân, tại chỗ để có biện pháp phù hợp.

1. Tại chỗ:
Băng ép vừa (trong phần sơ cứu và sử trí bỏng kỳ đầu), theo dõi nếu băng chặt hoặc khi chi thể bị phù nề thì băng sẽ trở thành garo, nên phải nới băng. Nếu bị bỏng hoá chất phải băng bằng chất trung hoà, làm nhanh.

2. Toàn thân:
2.1: Dùng các thuốc giảm đau:
  • Promedrol 0,02 x 1- 2 ml
  • Dimedrol 0,02 x 1 - 2 ml
  • hoặc Pipolphen 0,025 x 1 -2 ml
Các thuốc trên trộn lẫn tiêm bắp

2.2. Uống dịch thể sớm:
Nếu không có chướng bụng, tổn thương phối hợp (sọ não, tạng bụng, ngực...) cần cho uống nước đủ ngay sau bỏng. Thường dùng là:
1 gói oresol pha với 1 lít nước cho uống, thành phần gồm:
  • Natri clorua 3,5 g
  • Kali clorua 1,5 g
  • Glucose 20 g
2.3 ủ ấm: Cần giữ ấm nhưng không để thân nhiệt quá 37oc

3. Vận chuyển đến tuyến cơ sở hoặc bệnh viện chuyên khoa:
Nhẹ nhàng. Nếu gần tuyến cơ sở thì: chuyển ngay. Từ tuyến cơ sở đến bệnh viện chuyên khoa: phải đảm bảo thoát sốc mới chuyển, hoặc gần cũng phải đảm bảo nhẹ nhàng kết hợp truyền dịch.

II. Tại sơ sở điều trị chuyên khoa

Phải khám toàn thân, tại chỗ nhanh để có biện pháp điều trị sớm:

1. Tại chỗ: Để đánh giá được tổn thương và điều trị tại chỗ kịp thời cần
- Dùng thuốc giảm đau, nặng hơn cần gây mê.
- Thay băng, xử trí bỏng kỳ đầu, đưa thuốc vào điều trị tại chỗ và xác định diện tích, độ sâu bỏng, vẽ vùng tổn thương. Việc thay băng phải khẩn trương trong 10 - 15 phút.

2. Đưa bệnh nhân sốc bỏng vào buồng điều trị sốc:
2.1. Buồng điều trị sốc: Thoáng, đủ ánh sáng, đủ các phương tiện cấp cứu (thở oxy, bộ bộc lộ tĩnh mạch, hoặc đặt Catheter, bộ mở khí quản...), giường nằm sạch có chắn 2 bên.

2.2. Các bước tiến hành: Phân công việc của bác sỹ, kỹ thuật viên.
* Thở oxy: cần làm ngay và mất ít thời gian.
* Đặt dây truyền dịch: Nếu chưa có điều kiện kỹ thuật thì bộc lộ tĩnh mạch để truyền dịch, nếu có đủ phương tiện kỹ thuật cần đặt Catheter tĩnh mạch dươí đòn. Kết hợp lấy máu xét nghiệm và đo huyết áp tĩnh mạch trung ương.
* Có thể đặt ống sonde dạ dày để vừa hút được hơi dạ dày khi chướng bụng vừa đưa dịch (oresol) cho ăn sớm (sữa) (trong điều kiện không có tổn thương dạ dày).
* Đặt ống thông tiểu: phải đảm bảo vô trùng, dẫn qua chai, bỏ nước tiểu đầu (là nước tiểu trước khi bị bỏng) theo dõi nước tiểu hàng giờ (số lượng, màu sắc...), 24 giờ.
Cần theo dõi cụ thể thì mới có biện pháp để điều trị sốc hợp lý.

2.3. Các xét nghiệm cần làm:
Như phần lâm sàng đã nêu về các chỉ tiêu cận lâm sàng để kiểm tra.

2.4. Nếu có các tổn thương kết hợp cần khám hoặc mời các chuyên khoa có liên quan: Mắt, tai mũi họng.. đến khám để có biện pháp điều trị kết hợp

3. Các thuốc điều trị:
3.1. Thuốc giảm đau:
* Các loại thuốc tiêm để giảm đau, hoặc pha vào dịch truyền, truyền xen kẽ với các dịch khác. Khi bệnh nhân ngủ thì lại ngừng truyền dịch có pha thuốc này.
* Dung dịch Novocain 0,25%. Truyền mỗi lần 50 m-100ml. Khi bệnh nhân ngủ sẽ ngừng.
* Nếu bệnh nhân dãy dụa vật vã nhiều cần phải gây mê.

3.2. Dịch truyền:
Đây là vấn đề quan trọng nhất để bù đắp khối lượng máu lưu hành, giữ được huyết áp, chống thiểu niệu, vô niệu, chống được các rối loạn chuyển hoá, cân bằng kiềm toan.... Có nhiều công thức để tính lượng dịch truyền. Một số công thức chính:

* Công thức Evans:
Dịch keo = 1ml x kg (cân nặng) x diện tích bỏng
Điện giải = 1ml x kg (cân nặng) x diện tích bỏng
Huyết thanh ngọt 5% = 2000ml (người lớn)

Chú ý:
- Diện bỏng trên 50% tính bằng 50
- Ngày đầu truyền dịch không quá 10 lít: chia
8 giờ đầu truyền bằng 1/2 tổng lượng
16 giờ sau truyền bằng 1/2 tổng lượng
- Ngày thứ 2: Dịch keo và điện giải bằng 1/2 ngày thứ nhất.

* Công thức BROOKE: như công thức EVANS, nhưng dịch keo là 0,5 ml, dịch điện giải 1,5.
* Công thức BAXTER ( còn được gọi là công thức Parklano): 24 giờ đầu chỉ truyền Ringer lactat
Tổng lượng = 4ml x kg (cân nặng) x diện tích bỏng.
24 giờ sau dùng: huyết thanh ngọt đẳng trương 2000ml (người lớn) và huyết tương hoặc dịch keo tính theo diện tích bỏng.
- Nếu diện bỏng 40 - 50% truyền 50 - 250 ml
- Nếu diện bỏng 50 -70% truyền 500 - 800 ml
- Nếu diện bỏng trên 70% truyền 800 - 1000 ml

* ở Viện Bỏng Quốc Gia Lê Hữu Trác:
Tính cho mỗi % diện tích bỏng số ml dịch cần thiết theo mức độ nhẹ, vừa, nặng và rất nặng (trên 50% diện tích cơ thể tính bằng 50).


dưới 1 tuổi
1 -2 tuổi
3 - 6 tuổi
7 -14 tuổi
15 - 56 tuổi
Sốc nhẹ q/3)
15
40
40
50
60
Sốc vừa (q/3)
20
50
50
60
90
Sốc nặng và rất nặng (q/4)
25 -30
50 - 60
60 - 80
80 - 100
120 - 200

q: Tổng lượng dịch truyền
q/3: Chia 3 phần: Keo - điện giải - ngọt
q/4: Chia 4 phần: Máu, huyết tương - keo - điện giải - ngọt.

1.3 Thứ tự dịch truyền, tốc độ truyền:
Nguyên tắc chung là các loại dịch cần truyền xen kẽ, đảm bảo đủ khối lượng máu lưu hành.
- Truyền dịch điện giải trước (trong một số trường hợp sẽ truyền dịch keo trước) - keo - ngọt.
- Khi huyết áp tĩnh mạch trung ương (HATMTW) dưới 8 cm nước phải truyền tốc độ nhanh. Khi bình thường sẽ giảm tốc độ để duy trì. Dịch truyền thiếu hay đủ cần đánh giá vào HATMTW
- Khi HATMTW trở về bình thường mà chưa có nước tiểu hoặc thiểu niệu thì phải dùng lợi tiểu. Trong trường hợp bỏng sâu, diện rộng (bỏng điện cao thế) cần lợi tiểu sớm.
- Đối với trẻ con luôn phải theo dõi hô hấp, nếu tốc độ quá nhanh sẽ dẫn tới phù phổi.
- Nếu có bỏng đường hô hấp: tổng lượng dịch truyền bằng 2/3 hoặc bằng tổng lượng lý thuyết.

3.4. Các loại thuốc khác:
- Thuốc chống Histamin, chống nôn: Dimedrol
- Trợ tim mạch: oramin, cafein, oxabain.
- Giảm tính thấm thành mạch: Vitamin C, novocain 0,25%, Canxi clorua.
- Đề phòng biến chứng loét đường tiêu hoá: Tacgamet, Cimetidin (tiêm, uống).
- Kháng sinh: Dùng sớm, vừa liều điều trị
Kháng sinh loại có tác động với vi khuẩn Gram (+)
- Chống toan hoá: Nabica 8,4%; 1,4%

4. Điều trị các biến chứng:
Trong thời kỳ sớm - sốc bỏng có nhiều biến chứng cần theo dõi kỹ các diễn biến của bệnh nhân để có biện pháp đề phòng và điều trị nguyên nhân, triệu chứng của các biến chứng.

Theo benhhoc.com
Read On 0 nhận xét

Thuốc điều trị tại chỗ, vật liệu che phủ tạm thời

Phần I: Thuốc điều trị tại chỗ vết bỏng

I. Đại cương
- Tổn thương bỏng là nguồn gốc gây ra mọi rối loạn bệnh lý trong bệnh bỏng
- Dùng thuốc điều trị tại chỗ tổn thương bỏng nhằm hạn chế hoặc cắt bỏ yếu tố bệnh lý này

Thuốc điều trị tại chỗ vết bỏng gồm các nhóm thuốc:
· Thuốc kháng khuẩn vết thương bỏng
· Thuốc làm rụng hoại tử bỏng
· Thuốc kích thích tái tạo vết bỏng
· Thuốc làm se khô và tạo màng che phủ vết bỏng

- Trong điều trị bỏng hiện đại, việc sử dụng các vật liệu thay thế da đang là một vấn đề được cả thế giới quan tâm.
- Khám vết bỏng hàng ngày là công việc thường xuyên của bác sỹ điều trị bỏng để bổ xung chẩn đoán độ sâu của bỏng và chỉ định thuốc điều trị tại chỗ và toàn thân phù hợp

II. Các thuốc điều trị tại chỗ vết bỏng
II.1. Thuốc ức chế vi khuẩn vết thương bỏng
+Yêu cầu của một thuốc kháng khuẩn vết bỏng
Có tác dụng với các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn vết bỏng với tỷ lệ kháng thuốc thấp nhất
Không hoặc ít gây hại cho mô lành và tế bào lành
Không hoặc ít có tác dụng phụ
Thấm sâu vào các mô

1.1. Cream Silver sulfadiazine 1%
Đặc tính và tác dụng: Là sự kết hợp của bạc (Ag) với một sulfamide. Được sản xuất từ 1960, dưới dạng cream nồng độ 1% màu trắng không tan trong nước. Đây là một thuốc kháng khuẩn sử dụng tại chỗ vết bỏng khá thông dụng hiện nay.
- Thuốc ít hoặc không gây đau
- Thuốc ít thấm sâu vào hoại tử
- Thuốc có phổ kháng khuẩn rộng với nhiều loại vi khuẩn như S.aureus, E.coli, Klebsiella, P.aeruginosa, Proteus, Enterobacteraceae và cả C.albicans

Chỉ định:
- Điều trị vết thương bỏng nông và sâu

Chống chỉ định:
- Sau mổ ghép da
- Phụ nữ có thai những tháng cuối, trẻ sơ sinh (vì gây vàng da)
- Dị ứng với các thành phần của thuốc

Cách dùng:
Thuốc được dùng đắp vào vết thương bỏng mới (sau khi đã được xử trí vết thương kỳ đầu tốt) có thể đắp trực tiếp thuốc lên vết thương hoặc tẩm vào gạc. Thay băng ngày một lần hoặc hai lần

Tác dụng phụ:
Silver sulfadiazine 1% (SSD 1%) có thể gây giảm bạch cầu . Dấu hiệu này xảy ra thường sau 2-3 ngày sử dụng thuốc khi đắp diện tích rộng. Triệu chứng này thường gặp từ 5-15% bệnh nhân

Một số biệt dược thường gặp:
- Silvadene (Hoa kỳ)
- Flammazin (Pháp)
- Silvin (Pakistan)
- Silvirin (ấn độ)
- Sulfadiazin bạc (Xí nghiệp dược phẩm TW Huế)
- ...

1.2 Axit Boric.
Đây là một axit yếu, thuốc được sử dụng dưới dạng dung dịch 3% hoặc dạng bột tinh thể màu trắng , đóng gói 10 gam
Axit boric có tác dụng ức chế sự phát triển của trực khuẩn mủ xanh.

Chỉ định
- Điều trị vết thương nhiễm trực khuẩn mủ xanh
- Sử dụng để trung hoà vết bỏng do vôi tôi nóng

Chống chỉ định: Các loại bỏng khác

Cách dùng: Tẩm thuốc vào gạc đắp lên những vùng vết thương có nhiễm trực khuẩn mủ xanh, tẩm thuốc vào gạc đắp lên vết thương bỏng vôi, chỉ đắp diện tích khoảng 10%

Chú ý khi sử dụng: Không dùng ở diện tích quá rộng vì có nguy cơ thuốc gây nhiễm toan chuyển hoá.

1.3 Dung dịch Nitrat bạc (AgNO3)
Đặc tính: Thuốc có tác dụng diệt trực khuẩn mủ xanh, thuốc ít gây dị ứng

Chỉ định: Những vết bỏng nhiễm trực khuẩn mủ xanh

Chống chỉ định: Những vết bỏng khác

Cách dùng: Tẩm thuốc vào gạc, đắp vào những vùng nhiễm trực khuẩn mủ xanh

Dạng thuốc: Dung dịch 0,5%; 0,25% đóng trong chai màu. Nhược điểm của thuốc là đắp tốn gạc, gây đen đồ vải.

Chú ý khi sử dụng: Chỉ đắp với diện tích dưới 10% diện tích cơ thể vì thuốc gây hạ natri và clo máu, gây kiềm chuyển hoá và methemoglobin

1.4. Mỡ Maduxin
Đặc điểm và tác dụng: Maduxin (Madhuxin) là thuốc dạng mỡ màu nâu đen được nấu từ lá của cây sến (Madhuca pasquieri – Dubard H. Sapotaceae). Maduxin oil là cao của lá sến , dầu hạt sến và vaselin. Maduxin được nghiên cứu bào chế từ 1990-1995 (Lê Thế Trung, Nguyễn Liêm, Trần Xuân Vận). Đây là thuốc chữa nhiễm khuẩn vết bỏng có hiệu quả. Thuốc có tác dụng với tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh. E.coli, Proteus...

Gạc tẩm thuốc đắp vào vết thương làm giảm tiết dịch, giảm mùi hôi. Thuốc kích thích biểu mô hóa ở bỏng nông và tạo mô hạt ở bỏng sâu. Thuốc có tác dụng tốt với bỏng vôi.

Chỉ định: điều trị vết bỏng nông, bỏng sâu và bỏng vôi;

Chống chỉ định: Sau mổ ghép da

Cách dùng: Sau khi làm sạch vết thương, tẩm thuốc vào gạc, đắp lên vết thương, thay băng ngày một lần hoặc ngày hai lần.

Nhược điểm: Thuốc thường gây đau cho bệnh nhân và làm đen vải trải.

II.2. Thuốc làm rụng hoại tử bỏng :
Có bản chất là các men tiêu huỷ protein có nguồn gốc từ hoá chất,động vật, thực vật và vi sinh vật
· Từ hoá chất (các axit yếu): mỡ Axit salyxilic 40%

Chỉ định và cách dùng:
- Dùng ở hoại tử khô từ tuần thứ hai sau bỏng
- Diện tích dùng một lần dưới 10% diện tích cơ thể
- Đắp thuốc trực tiếp lên hoại tử, dùng thuốc cách ngày (Bôi thuốc dày khoảng 1mm)

Chống chỉ định.
Hoại tử ướt
Trạng thái toàn thân nặng (Suy tim mach, suy hô hấp...) vì dùng thuốc thời gian kéo dài có thể gây nhiễm toan chuyển hoá.
  • Nguồn gốc động vật: Các men Trypsin, pepsin, chymotrypsin..
  • Từ thực vật: men papain (từ mủ quả đu đủ), bromelain (từ quả dứa) có tác dụng làm tiêu sợi tơ huyết và ức chế đông vón tiểu cầu
  • Từ vi sinh vật: các men do vi khuẩn tiết ra như Streptokinaza (do liên cầu khuẩn tiết ra), Subtilain (do Bacillus subtilis tiết ra). Chế phẩm Travase đã từng được áp dụng trên lâm sàng có kết quả tốt
II. 3 Thuốc kích thích tái tạo vết bỏng (kích thích biểu mô và tạo mô hạt)
Trong nhóm thuốc này có nhiều loại thuốc như:
- Các thuốc mỡ: Dầu gan cá thu, dầu gấc (Bản chất là các vitamin A,D)
- Thuốc mỡ chế từ rau má, madecasol
- Thuốc kem nghệ.
- Thuốc Dampommade (mỡ cao vàng) , đây là bài thuốc thừa kế của sư cụ Đàm Lương ở Chùa Trắng. Thành phần gồm có: Hồng đơn, sáp ong, mật đà tăng, dầu luyn....

Chỉ định: - Sau mổ ghép da 5-7 ngày
- Vết bỏng chậm liền, vết loét lâu liền diện tích hẹp

Chống chỉ định: Diện tích rộng (vì trong thành phần có chì), mỗi lần chỉ đắp dưới 5% diện tích cơ thể

Cách dùng: Tẩm thuốc vào gạc đắp vào vết thương có tác dụng kích thích biểu mô hoá ở những vùng có mô hạt diện tích hẹp và được sử dụng ở những vết loét lâu liền. Thay băng ngày một lần , hoặc thay băng cách ngày.

II.4. Thuốc tạo màng che phủ vết bỏng (Thuốc tạo màng)
Thành phần của thuốc có tanin có tác dụng làm đông dịch vết thương, kết tủa protein, liên kết các tơ collagene tạo thành một màng .

Một số thuốc nam có tác dụng làm se khô và tạo màng thuốc như cao đặc lá sim cao kháo nhậm, cao kháo vàng, hu đay, cao lá tràm, chè dây... và đặc biệt là thuốc bỏng chế từ vỏ cây xoan trà (Lê Thế Trung, Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Liêm, Đoàn Thế Luỹ và CS- B76).

Cao đặc vỏ cây xoan trà có tỷ trọng d:1,22-1,24, độ nhớt n=5,36 poises, pH:7, Tanin:32,1%, gôm nhựa 14%, flavon 5,4%, dầu béo 1,37%...

Dạng thuốc bột khô, màu nâu , tan nhanh trong nước nóng (thuốc bột B76)

Chỉ định: Dùng cho bỏng mới, bỏng nông, vết bỏng chưa nhiễm khuẩn

Chống chỉ định:
- Bỏng sâu
- Vết bỏng đã nhiễm khuẩn hoặc ô nhiễm nặng
- Bỏng vùng khớp
- Bỏng vùng mặt cổ, tầng sinh môn, sinh dục
- Bỏng do vôi tôi nóng

Cách dùng: Bột B76 được rắc lên vết bỏng sau khi đã được xử lý vô khuẩn kỳ đầu vết thương, cắt vòm nốt phỏng, bỏng chi thể không bôi kín chu vi, bôi mặt trước, mặt sau chi thể

Chú ý: Thuốc gây đau xót trong 15-30 phút sau khi phun thuốc , do đó phải giảm đau tốt cho người bệnh.

Theo dõi sau đắp thuốc:
- Sấy khô bằng đèn hoặc bằng máy sấy
- Rạch màng thuốc khi có dấu hiệu: phù nề, trèn ép tuần hoàn đầu chi hoặc có mủ ở dưới màng thuốc
- Nếu tiến triển tốt, 10-15 ngày màng thuốc tự bong và vết bỏng liền

Phần II: sử dụng các loại Da và vật liệu thay thế da

III.1. Mục đích
- Giảm đau cho người bệnh
- Hạn chế mất dịch, máu qua vết thương
- Hạn chế nhiễm khuẩn vết bỏng
- Kích thích biểu mô hoá ở bỏng nông, kích thích tạo mô hạt ở bỏng sâu

III.2 Một số vật liệu che phủ tạm thời
III.2.1 Phân loại
Vật liệu có nguồn gốc từ da:
Da dị loại: Da ếch tươi, da ếch đông khô tiệt khuẩn bằng tia gamma, da lợn tươi đông lạnh
Da đồng loại: da tử thi, da lấy từ thân nhân người bị bỏng

Vật liệu có nguồn gốc sinh học tổng hợp: màng Biobrane, Intergra, Dermagraft, collagene, ...

III .2.2. Chỉ định:
- Các vết bỏng độ II, III nền sạch.
- Đắp vào nền vết thương sau khi cắt bỏ hoại tử
- Đắp vào nền mô hạt xấu, chuẩn bị ghép da tự thân
- Đắp vào những diện mô hạt rộng (khi chưa có điều kiện ghép da tự thân)

III.2.3 Chống chỉ định:
- Hoại tử bỏng sâu
- Vết thương bỏng bẩn và ô nhiễm nặng

Theo benhhoc.com
Read On 0 nhận xét

Đại cương bỏng

I. ĐẠI CƯƠNG:
Bỏng là các tổn thương gây nên bởi sức nhiệt, hoá chất, điện năng, bức xạ. Đại đa số trường hợp bỏng chỉ hạn chế ở da, nhưng cũng gặp bỏng sâu tới các lớp dưới da như: cân, cơ, gân, xương khớp và các tạng.

Trong thời bình bỏng thường gặp trong lao động sản xuất hoặc trong sinh hoạt; tỷ lệ bỏng chiếm 1,8% đến 10% so với chấn thương ngoại khoa. Thời bình bỏng thường bị lẻ tẻ nhưng cũng có thể có những tai nạn hàng loạt nhiều người bị cùng một lúc.

Trong chiến tranh bỏng thường chiếm từ 3-10% tổng số thương binh, nếu có sử dụng NBC: lên tới 70-85% tổng số nạn nhân.

II. NHỮNG TÁC NHÂN VÀ CƠ CHẾ GÂY BỎNG:

1. Bỏng do sức nhiệt: Là loại gặp nhiều nhất, có 2 loại:
a. Sức nhiệt khô:
- Lửa
- Tia lửa điện
- Kim loại nóng chảy

b. Sức nhiệt ướt:
- Nước sôi
- Thức ăn sôi nóng
- Dầu mỡ sôi (nhiệt độ 180oc)
- Hơi nước nóng từ 90oc - 92oc trở lên

2. Bỏng do hoá chất: có 2 loại do axit, do bazơ
a. Axit: có 3 loại axit vô cơ mạnh thường gây bỏng là:
- Axit sunfuric (H2SO4)
- Axit nitric (HNO3)
- Axit clohydric (HCL)

Có thể gặp bỏng do các axit hữu cơ
- Axit phenic (phenol)
- Axit tricloraxetic

b. Bazơ:
Các loại bazơ đặc mạnh gây bỏng: NaOH, KOH, Ca(OH)2. Vôi đang tôi là một loại bỏng vừa do sức nhiệt, vừa do độ bazơ.

3. Bỏng do điện:
Bỏng do luồng điện dẫn truyền qua cơ thể. Bỏng do tia lửa điện là một bỏng nhiệt.

4. Bỏng do các tia vật lý:
- Tia hồng ngoại, tử ngoại.
- Tia X (tia Rơnghen)
- Tia phóng xạ (gama, bêta).

III. SINH BỆNH HỌC TỔN THƯƠNG BỎNG:
Da là tổ chức che phủ toàn bộ cơ thể đồng thời có nhiều chức phận như: điều hoà nhiệt độ cơ thể, hàng rào bảo vệ cơ thể, cơ quan xúc giác, bài tiết một số các chất thải (qua mồ hôi).

Khi bị tác dụng của nhiệt, hoá chất, điện năng, một số loại bức xạ, da sẽ bị tổn thương. Ở bỏng do sức nhiệt thương tổn của da phụ thuộc vào:

1. Sức nhiệt tính bằng nhiệt độ C (nhiệt độ nóng của tác nhân gây bỏng khi tác động lên cơ thể).
2. Hoặc bằng bức xạ nhiệt tác dụng trên da tính bằng Calo/cm2.
3. Thời gian tác dụng trên da của sức nhiệt.

Tế bào cơ thể bị tổn thương ở nhiệt độ 45-50oC. Nếu nhiệt độ cao, thời gian tác động ngắn các tế bào thượng bì bị tổn thương, nguyên sinh chất phỉnh ra, nhân đông. Mao mạch trung bì giãn. Tính thấm thành mạch tăng: thoát dịch huyết tương ra gian bào làm tách lớp thượng bì. Dịch huyết tương thoát ra làm thành dịch nốt phỏng.

Nếu nhiệt độ cao, thời gian tác động trên da kéo dài, da sẽ bị hoại tử ngay. Các lớp mạch máu ở trung bì và hạ bì bị hoại tử đông. Da bị hoại tử và kết dính với nhau thành một khối duy nhất. Khi bị bỏng do nhiệt khô mà thời gian tác động trên da dài và sức nhiệt cao thì gây hoại tử khô. Nếu nhiệt độ không cao và thời gian tác động trên da ngắn sẽ gây hoại tử ướt. Có thể trên cùng một vùng bỏng có hoại tử khô và hoại tử ướt xen kẽ.

Ngoài ra tổn thương bỏng còn phụ thuộc vào độ dày, mỏng của da. Trên cơ thể độ dày mỏng không đều. Các diện da ở mặt trong các chi mỏng hơn da ở mặt ngoài chi thể. Da đầu, da gan bàn tay, da gan bàn chân dày hơn ở các vùng khác. Trẻ em và người già da mỏng hơn da người lớn, da phụ nữ mỏng hơn da nam giới.

IV. CHẨN ĐOÁN ĐỘ SÂU CỦA BỎNG:
Chẩn đoán độ sâu của bỏng dựa vào:
a. Các triệu chứng nhìn thấy bên ngoài như: da đỏ, nốt phỏng, hoại tử, cháy thành than.

b. Các quan sát lâm sàng và tổn thương giải phẫu bệnh học.

Hiện nay có nhiều cách phân loại độ sâu của tồn thương bỏng:
1.Dupuytren chia bỏng làm 6 độ: da đỏ, nốt phỏng, hoại tử trung bì, hoại tử toàn lớp da, hoại tử da cơ và xương.

2. Quân Y Pháp chia bỏng thành 2 loại:
a. Bỏng kín: vết bỏng tự liền da
b. Bỏng hở: vết bỏng có mô hạt

3. Một số nước Âu Mỹ phân chia theo độ sâu bỏng thành 3 độ: Độ I, độ II (độ II nông và độ II sâu), độ III (độ III nông và độ III sâu).

4. Nga phân chia thành 4 độ: độ I, độ II, độ IIIa, độ IIIb, độ IV.

5. Hiện nay chúng ta chia mức độ tổn thương bỏng thành 2 nhóm (bỏng nông và bỏng sâu) và 5 mức độ sâu:

Bỏng nông gồm:
1. Viêm da: (bỏng độ I).
Da đỏ, đau rát phù nhẹ. Sau 2-3 ngày khỏi, có thể thấy bong các lớp nông thượng bì.

2. Bỏng lớp thượng bì (độ II).
Là độ II nông theo các tác giả Âu Mỹ và độ II theo các tác giả Liên Xô.
- Trên nền da xung huyết và xuất hiện nốt phỏng chứa dịch màu vàng chanh. Vòm nốt phỏng mỏng, đáy màu hồng và ướt.
- Tăng cảm giác: đau rát.
- Về tổ chức học: tổn thương đến các lớp tế bào nông của thượng bì. lớp tế bào mầm còn nguyên vẹn. mao mạch ở lớp nhú trung bì bị ứ huyết và tăng tính thấm. Dịch huyết tương thoát ra tạo thành nốt phỏng. Thơì gian khỏi từ 8-13 ngày.

3. Bỏng trung bì: (độ III) là độ sâu theo các tác giả Âu Mỹ, độ IIIa theo tác giả Nga.

a. Bỏng lớp trung bì nông (độ III nông).
- Nốt phỏng vòm dày gồm toàn bộ lớp thượng bì và một phần lớp trung bì bị tổn thương, nền nốt phỏng hoặc trắng hoặc có rỉ máu.
- Tổ chức học: các ống và gốc lông, các tuyến mồ hôi còn nguyên vẹn. Thời gian khỏi từ 15-17 ngày.

b. Bỏng lớp trung bì sâu (độ III sâu) da bị hoại tử:
- Thường thấy xen kẽ với bỏng sâu. Khó chẩn đoán trong thời gian đầu. Thường gặp các lớp da dày (da lưng, da mông...). Về tổ chức học, lớp trung bì tổn thương chỉ còn các phần sâu của các tuyến mồ hôi.

- Hoại tử bỏng rụng sớm (ngày thứ 10-12). Mô hạt mọc lên xen kẽ với các đảo biểu mô của tuyến mồ hôi. Thời gian tự khỏi 30-40 ngày.

4. Bỏng toàn bộ lớp da (độ IV)
Là độ III nông theo tác giả Âu Mỹ và độ IIIb theo tác giả Nga. Tổn thương biểu hiện da hoại tử có thể là hoại tử ướt có màu trắng bệch, gồ cao hơn mặt da lành sờ trên mặt da mịn mềm hoặc là hoại tử khô màu vàng đỏ hoặc đen hơi lõm thấp hơn mặt da lành. Qua lớp da hoại tử nhìn thấy các lưới huyết quản ở dưới da bị hoại tử lấp quản có đông máu trong lòng huyết quản.

Sau 3-4 tuần hoại tử rụng. Hoại tử ướt rụng nhanh hơn hoại tử khô. Mô hạt mọc và có hiện tượng biểu mô hoá từ bờ vết thương vào giữa.

5. Bỏng da và các lớp dưới cân (độ V)
Là bỏng độ III sâu theo tác giả Âu Mỹ, là độ IV theo tác giả Nga tổn thương gân, cơ, xương, khớp, mạch máu thần kinh, sụn khớp và có khi tạng bụng hoặc ngực cũng bị bỏng.

Mô hoại tử thường rụng muộn và có nhiều biến chứng như viêm khớp, viêm sụn, viêm xương, chảy máu thứ phát, hình thành các ổ mủ hoặc viêm mủ lan rộng. Bỏng độ I, II, III, là bỏng nông: vết thương có thể tự liền đươc, ít để lại những di chứng tại chỗ ảnh hưởng xấu đến chức năng vận động các khớp.

Bỏng độ IV, V là bỏng sâu. Nếu bỏng sâu có diện tích rộng tiên lượng sẽ nặng có nhiều biến chứng tại chỗ và toàn thân, khi chữa khỏi thường có di chứng tại chỗ ảnh hưởng xấu đến chức năng vận động và thẩm mỹ.

Trong thực tế lâm sàng chẩn đoán độ sâu của bỏng rất khó chính xác ngay từ lúc đầu thường phải chẩn đoán bổ sung nhiều lần qua công tác thay băng, chẩn đoán độ sâu giúp ta có kế hoạch điều trị đúng và dự kiến tiên lượng kịp thời. Để chẩn đoán sớm và tương đối chính xác có thể dùng phương pháp chẩn đoán huỳnh quang.

Tiêm cho bệnh nhân Fluoresein Na dung dịch 20%, 5-10 ml vào tĩnh mạch. Dưới ánh sáng các tia cực tím có bước sóng dài (dùng đèn Wood hoặc đèn thạch anh 250), các chất huỳnh quang ở máu có lưới mao mạch của trung bì và dưới da nếu còn nguyên vẹn sẽ phát ra màu vàng ánh. Căn cứ vào các vùng có màu sắc có thể phân biệt vùng bỏng nông và sâu.

V. TÍNH DIỆN TÍCH BỎNG:
- Diện tích da cơ thể ở người lớn (từ 16 tuổi trở lên) trung bình là 16000 cm2.
- Đặng Ngọc Tốt (1969) đo diện tích da thấy trung bình ở người lớn Việt Nam là 15000 cm2.
Có 3 phương pháp chính tính diện tích bỏng ở người lớn:

+ Pulaski - Tennison và Wallas (1951) dùng phương pháp con số 9 dể tính diện tích bỏng

Vị trí
Diện tích %
Vị trí
Diện tích %
Đầu - mặt - cổ
mặt trước
Thân
mặt sau
9
9 x 2
-
9 x 2
Chi trên
Chi dưới
-
Sinh dục
9
9 x 2
-
1

+ Blôkhin dùng phương pháp bàn tay
để đo diện tích mỗi bàn tay của người đó tương ứng 1% - 1,25% diện tích cơ thể.

+ Lê Thế Trung (1965) tính diện tích cơ thể bằng những con số gọn : 1; 3; 6; 9; 18.

Vị trí
Diện tích %
Vị trí
Diện tích %
- Cổ (trước)
- Cổ (gáy)
- Gan tay
- Mu tay
- Sinh dục ngoài
1
- Mông (hai bên)
- Cẳng chân (1 bên)
6


- Đùi (1 bên)
- Chi trên )1 bên)
9
- Da đầu (phần có tóc)
- Da mặt
- Cánh tay )1 bên)
- Cẳng tay (1 bên)
- bàn chân (1 bên)
3
- Mặt trước thân
- Mặt sau thân
- Chi dưới (1 bên)
18

Ở trẻ em cách tính diện tích có khác người lớn, đối với diện tích da đầu, cổ, đùi, và cẳng chân. Trẻ sơ sinh thì diện tích da đầu + cổ là 20% diện tích cơ thể. Khi lớn lên tỷ lệ này có thay đổi vì thế phải có một bảng tính riêng.

- Bảng tính diện tích bỏng ở trẻ em: ( Lê Thế Trung - 1965).

Diện tích %
Tuổi
Đâù + cổ
Hai đùi
Hai cẳng chân
1 tuổi
5 tuổi
10 tuổi
15 tuổi
17
(-4) = 13
(-3) = 10
(-2) =8
(-4) = 13
(+3) = 16
(+2) = 18
(+1) = 19
(-3) = 10
(+1) = 11
(+1) = 12
(+1) = 13

VI
. CÁCH TIÊN LƯỢNG NGƯỜI BỊ BỎNG.
Tiên lượng bệnh nhân bỏng về hai mặt:
- Toàn thân
- Chức năng vận động và thẩm mỹ.
Dựa vào những căn cứ sau đây để tiên lượng bỏng.

1. Căn cứ vào diện tích bỏng chung và diện tích bỏng sâu: Nếu chỉ bỏng nông dù diện tích rộng tới 90% vẫn có khả năng cứu sống được. Nhưng nếu bỏng sâu từ 40% diện tích cơ thể trở lên vẫn có một tỷ lệ tử vong khá cao mặc dù được điều trị tích cực tại các trung tâm chữa bỏng, cho đến nay việc chữa khỏi cho các bệnh nhân có diện tích bỏng sâu trên 70% diện tích cơ thể là một vấn đề rất khó khăn. Trên thế giới số trường hợp kể trên được cứu sống còn ít.

2. Căn cứ vào tuổi và sức khoẻ bệnh nhân khi bị bỏng
: Trẻ em và người già tiên lượng nặng hơn so với người lớn nếu có cùng diện tích và mức độ tổn thương bỏng như nhau.

Người đang mắc bệnh sốt rét , lao phổi...Tiên lượng xấu hơn người bình thường. Phụ nữ chửa bị bỏng thường có diễn biến nặng.

3. Căn cứ vào vị trí bỏng, tác nhân gây bỏng và hoàn cảnh bị bỏng:
a. Vị trí: Bỏng vùng mặt, cổ, có thể gặp bỏng đường hô hấp trên, bỏng giác mạc, mi mắt, sụn tai. Bỏng vùng mặt cổ ảnh hưởng đến thẩm mỹ và các chức năng: nhìn, nhai, nghe, thở....
Bỏng bàn tay và các vùng khác của chi thể thường có di chứng làm hạn chế chức phận chi thể: co kéo, dính, tư thế sai lệch.

b. Tác nhân: Nhiệt khô thường gây bỏng sâu do đó thường nặng hơn bỏng do sức nhiệt ướt. Tử vong do bỏng lửa cao hơn bỏng nước sôi.

Bỏng điện cao thế thường sâu đến các khối cơ, nhiều mô hoại tử và chảy máu thứ phát.
Bỏng do hơi nóng và các khí nóng thường kèm theo bỏng đường hô hấp.

Bỏng do vôi tôi thường có hoại tử ướt do đó dễ bị nhiễm khuẩn nhất là nhiễm khuẩn mủ xanh.

c. Hoàn cảnh: Khi lên cơn động kinh, say rượu, ngất, bất tỉnh mà bị bỏng thì thường là bỏng sâu vì người bệnh mất ý thức tự bảo vệ.

4. Căn cứ vào cách điều trị và hoàn cảnh bị bỏng:
Sau khi bị bỏng có được cấp cứu kịp thời hay không? Cách chữa có chính xác hay không? đó là những vấn đề có liên quan đến các biến chứng xảy ra như: sốc, nhiễm độc, nhiễm khuẩn, suy mòn và khả năng tái tạo và phục hồi của vết bỏng.

Theo benhhoc.com
Read On 0 nhận xét
 

MedicineNet Daily News

Medscape Medical News Headlines

WebMD Health


About me | Author Contact | Powered By Blogspot | © Copyright  2008