Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền Nhiễm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền Nhiễm. Hiển thị tất cả bài đăng

Cảm lạnh

Cảm lạnh là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp trên. Có hơn 200 virus khác nhau có thể gây ra cảm lạnh với những triệu chứng khác nhau.

Dấu hiệu và triệu chứng

Triệu chứng thường xuất hiện khoảng 1 – 3 ngày sau khi tiếp xúc với virus và bao gồm:

  • Ngạt mũi hoặc chảy nước mũi
  • Họng ngứa và đau
  • Ho
  • Đau người hoặc đau đầu nhẹ
  • Hắt hơi
  • Chảy nước mắt
  • Sốt nhẹ
  • Mệt mỏi nhẹ.

Nguyên nhân

  • Mặc dù có hơn 200 virus có thể gây ra các triệu chứng cảm lạnh, song rhinovirus là thủ phạm hay gặp nhất và rất dễ lây..

Điều trị

Không có thuốc chữa khỏi cảm lạnh. Kháng sinh không có tác dụng chống lại virus gây bệnh. Các thuốc không kê đơn dùng đề chữa cảm lạnh không chữa khỏi bệnh cũng như không làm cho bệnh nhanh khỏi hơn. Dưới đây là những ưu và nhược điểm của một số loại thuốc hay dùng để điều trị cảm lạnh.

  • Thuốc giảm đau. Các thuốc giảm đau không kê đơn như acetaminophen thường được sử dụng để điều trị sốt và đau đầu khi bị cảm lạnh. Cần nhớ rằng acetaminophencó thể gây tổn thương gan, nhất là khi dùng ở liều cao kéo dài. Không dùng aspirin cho trẻ em vì thuốc có thể gây ra hội chứng Reye — Một bệnh hiễm gặp nhưng có thể gây tử vong.
  • Thuốc xịt mũi để giảm xung huyết mũi. Những thuốc này không nên dùng kéo dài vì có thể gây viêm niêm mạc mũi mạn tính.
  • Xi rô ho. Các loại xi rô ho không có tác dụng điều trị nguyên nhân gây ho trong cảm lạnh. Một số loại chứa những thành phần làm giảm ho, nhưng với lượng quá ít nên không đủ tác dụng hoặc có thể gây hại cho trẻ. Trung tâm phòng chống bệnh dịch Mỹ (CDC) khuyên không nên dùng xi rô ho cho trẻ dưới 2 tuổi. Ho do cảm lạnh thườgn kéo dài ít nhất là 2 – 3 tuần. Nếu ho kéo dài lâu hơn, cần cho trẻ đi khám bác sĩ.

Các biện pháp tự chăm sóc khi bị cảm lạnh gồm:

  • Uống nhiều nước.
  • Nghỉ ngơi đầy đủ.
  • Giữ cho phòng ở luôn ấm và ẩm
  • Súc họng nhiều lần trong ngày bằng nước muối ấm hoặc uống nước chanh ấm pha với mật ong để làm dịu chỗ họng bị viêm và giảm ho
  • Nhỏ mũi bằng nước muối sinh lý để làm giảm xung huyết mũi.

Phòng bệnh

  • Rửa tay thường xuyên.
  • Vệ sinh nhà cửa sạch sẽ thông thoáng, nhất là khi trong gia đình có người bị cảm lạnh.
  • Vứt bỏ khăn giấy ngay sau khi dùng.
  • Không dùng chung bát đũa, vật dụng cá nhân với người khác.
  • Tránh tiếp xúc lâu với người bị cảm lạnh.
theo http://www.cimsi.org.vn

Read On 0 nhận xét

Cúm

Cúm là bệnh do virus xảy ra ở đường hô hấp, gồm mũi, họng, phế quản và phổi. Bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ ai, nhưng trẻ nhỏ, người già, người bị bệnh mạn tính và suy giảm miễn dịch đặc biệt dễ mắc.

Triệu chứng

Bệnh cúm thường có khởi đầu giống như cảm lạnh với các triệu chứng chảy nước mũi, thờ khò khè và đau họng, song thường có khởi phát đột ngột và nặng lên nhanh chóng. Các dấu hiệu và triệu chứng thường gặp khác gồm:

  • Sốt, rét run và toát mồ hôi
  • Đau đầu
  • Ho khan
  • Đau nhức cơ, nhất là vùng lưng, cánh tay và chân
  • Mệt mỏi nhiều
  • Ngạt mũi
  • Chán ăn
  • Tiêu chảy hoặc nôn ở trẻ em

Nguyên nhân

Có 3 chủng virus gây bệnh cúm là cúm A, B, và C. Virus cúm lây lan qua những giọt dịch tiết bắn vào trong không khí khi người bệnh ho và hắt hơi. Cúm týp A là nguyên nhân gây nên nhiều đại dịch nguy hiểm xảy ra 10 đến 40 năm một lần. Cúm týp B gây ra những ổ dịch nhỏ khu trú hơn. Cả hai týp A và B đều gây bệnh cúm theo mùa lưu hành hằng năm. Cúm týp C chưa bao giờ gây ra đại dịch lớn.

Điều trị

Thông thường bệnh nhân chỉ cần nghỉ ngơi tại giường và uống nhiều nước. Nhưng trong một số trường hợp bác sĩ có thể kê đơn những thuốc chống virus như oseltamivir (Tamiflu) hay zanamivir (Relenza).

Những thuốc này điều trị cả cúm týp A và B, có tác dụng bất hoạt một enzym cần thiết để virus phát triển và lây lan. Nếu được dùng sớm thuốc có thể rút ngắn thời gian có triệu chứng. Cả hai thuốc đều có thể gây những tác dụng phụ như kém minh mẫn, buồn nôn, nôn, chán ăn hoặc khó thở, và có thể dẫn đến sự hình thành virus kháng thuốc..

Phòng bệnh

  • Tiêm vaccin phòng cúm hằng năm. Tốt nhất nên tiêm vào tháng 10 hoặc tháng 11 để cơ thể tạo được kháng thể trước khi mùa cúm bắt đầu. Vaccin không có tác dụng bảo vệ hoàn toàn nhưng có thể làm giảm được nguy cơ và mức độ nặng của bệnh.
  • Rửa tay sạch. Đây là cách tốt nhất để phòng ngừa nhiều bệnh nhiễm trùng. Kì cọ kỹ bàn tay trong ít nhất 15 giây, tráng kỹ và dùng khăn giấy để tắt vòi nước. Hoặc dùng gel rửa tay chứa ít nhất 60% cồn.
  • Ăn đúng, ngủ đủ. Ăn ngủ kém sẽ làm giảm miễn dịch và khiến cơ thể dễ bị bệnh. Chế độ ăn cần cân đối, chú trọng rau quả, ngũ cốc và thịt nạc với lượng vừa phải. Người lớn cần ngủ 7 – 8 tiếng ban đêm. Trẻ lớn và trẻ vị thành niên cần ngủ nhiều hơn, chừng 9 – 10 tiếng.
  • Tập luyện thường xuyên có tác dụng tăng cường miễn dịch, nhờ đó khi bị bệnh triệu chứng sẽ nhẹ hơn và mau khỏi hơn.
  • Tránh nơi đông người khi đang có dịch cúm. Bệnh cúm lây lan dễ dàng ở những nơi tập trung đông người như nhà trẻ, trường học, công sở, nàh hát, rạp chiếu phim v.v… Tránh những nơi đông người khi đang có dịch cúm sẽ làm giảm nguy cơ lây bệnh.
theo http://www.cimsi.org.vn


Read On 0 nhận xét

Bệnh chốc lở

Chốc lở là một bệnh nhiễm trùng da chủ yếu xảy ra ở trẻ em. Bệnh có biểu hiện là những nốt mụn đỏ, sau đó vỡ ra, rỉ nước trong một vài ngày và đóng vảy, thường xuất hiện ở vùng mặt, nhất là quanh mũi và miệng. Bệnh dễ lây và thường có nguyên nhân do vi khuẩn.

Dấu hiệu và triệu chứng

- Chốc lở truyền nhiễm: là thể bệnh hay gặp nhất, bắt đầu là một nốt mụn đỏ trên mặt, thường quanh mũi và miệng. Nốt mụn nhanh chóng vỡ ra, chảy dịch hoặc mủ và đóng vảy màu nâu. Cuối cùng vảy sẽ bong ra, để lại một vết đỏ mà không gây sẹo. Nốt mụn có thể ngứa những không đau. Trẻ không sốt nhưng thường bị sưng hạch ở vùng bị bệnh. Và do rất dễ lây nên chỉ cần đụng chạm hoặc gãi vào vết mụn cũng làm cho bệnh lây sang những nơi khác.

- Chốc lở dạng phỏng: chủ yếu xảy ra ở trẻ dưới 2 tuổi, gây ra những nốt phỏng nước chứa đầy dịch và không đau, thường ở thân mình, cánh tay và cẳng chân. Da xung quanh nốt phỏng đỏ và ngứa nhưng không loét. Nốt phỏng sẽ vỡ và đóng vảy màu vàng và có thể lâu liền hơn các dạng chốc lở khác.

- Mụn mủ: là thể nặng nhất trong đó nhiễm trùng thâm nhập sâu vào lớp bì. Các dấu hiệu và triệu chứng gồm:

  • Những nốt mụn đau chứa đầy dịch hoặc mủ biến thành vết loét sâu, thường ở cẳng chân và bàn chân.
  • Vảy dày, cứng màu vàng xám trên vết mụn.
  • Sưng hạch ở vùng bị bệnh
  • Vết loét liền để lại sẹo.

Nguyên nhân

Hai loại vi khuẩn hay gặp nhất gây chốc lở là tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) và liên cầu (Streptococcus pyogenes). Cả hai đều sống trên da và khi xâm nhập qua vết trầy xước hoặc các vết thương khác sẽ gây bệnh.

Xét nghiệm và chẩn đoán

Chần đoán thường dựa trên quan sát nốt mụn trên da trẻ. Đôi khi bệnh phẩm lấy ở nốt mụn sẽ được nuôi cấy để phát hiện sự có mặt của vi khuẩn.

Điều trị

Điều trị tuỳ thuộc và tuổi của trẻ, thể bệnh và mức độ nặng, bao gồm:

  • Vệ sinh. Sát trùng và giữ cho da trẻ sạch sẽ có thể giúp cho những nốt mụn nhỏ tự liền.
  • Kháng sinh bôi tại chỗ như mỡ mupirocin (Bactroban)
  • Kháng sinh uống. Loại kháng sinh cụ thể sẽ tuỳ thuộc và mức độ nặng của bệnh, tình trạng dị ứng hoặc những bệnh khác ở trẻ.

Phòng bệnh

Giữ cho da trẻ sạch sẽ là cách tốt nhất để tránh nhiễm trùng. Xử lý đúng cách các vết trầy xước, vết đốt của côn trùng và các vết thương khác bằng cách rửa sạch vùng bị thương để tránh nhiễm trùng. Nếu trong gia đình có người bị chốc lở, cần áp dụng các biện pháp sau để tránh lây bệnh:

  • Nhẹ nhàng rửa sạch vùng bị bệnh bằng xà phòng nhẹ dưới vòi nước chảy và sau đó băng lại.
  • Giặt quần áo, khăn và đồ vải của trẻ hằng ngày và không để dùng chung với người khác trong nhà.
  • Mang găng khi bôi thuốc và sau đó rửa tay thật kỹ.
  • Cắt ngắn mógn tay cho trẻ để trẻ khỏi cào gãi
  • Khuyến khích trẻ rửa tay thường xuyên
  • Cho trẻ nghỉ ở nhà đến khi không còn lây bệnh.
theo http://www.cimsi.org.vn


Read On 0 nhận xét

Uốn ván

Uốn ván là một bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng gây co cứng các cơ ở hàm và các cơ khác, dẫn đến khó thở và có thể tử vong.

Dấu hiệu và triệu chứng

  • Cứng cơ vùng hàm, cổ và các cơ khác
  • Cơ bị kích thích
  • Co thắt cơ vùng hàm, cổ và các cơ khác
  • Sốt

Cơ co cứng và co thắt khiến bệnh nhân khó nuốt, khó thở, vật vã. Các triệu chứng có thể xuất hiện vài ngày hoặc vài tuần sau khi bị thương. thời gian ủ bệnh thường từ 3 ngày đến 3 tuần, trung bình là 8 ngày.

Nguyên nhân

Vi khuẩn gây bệnh uốn ván là Clostridium tetani, thường được tìm thấy trong đất, bụi và phân động vật. Khi xâm nhập vào vết thương sâu, bào tử của vi khuẩn có thể sinh ra một độc tố mạnh là tetanospasmin, tác động đến những vùng khác nhau của hệ thần kinh. Tác động của độc tố khiến cơ co cứng và co thắt.

Xét nghiệm và chẩn đoán

Chẩn đoán dựa trên khám thực thể và các dấu hiệu cơ co cứng, co thắt và đau. Xét nghiệm cận lâm sàng nói chung không giúp ích cho chẩn đoán uốn ván.

Điều trị

- Kháng độc tố uốn ván. Chỉ có tác dụng trung hòa độc tố chưa kết hợp với mô thần kinh.

- Kháng sinh đường uống hoặc tiêm để chống lại vi khuẩn.

- Thuốc an thần và làm liệt cơ để giảm co thắt.

- Hỗ trợ tuần hoàn, hô hấp như thở máy

Phần lớn các trường hợp bệnh nhân đã lên cơn uốn ván sẽ tử vong mặc dù được điều trị. Tử vong có thể do co thắt cơ hô hấp, viêm phổi hoặc mất chức năng của hệ thần kinh tự động.

Bệnh có thể khỏi hoàn toàn. Tuy nhiên một số bệnh nhân bị di chứng kéo dài do tổn thương não vì thiếu oxy.

Phòng bệnh

- Tiêm vaccin chống lại độc tố uốn ván. Vaccin thường được tiêm cho trẻ ở dạng kết hợp 3 loại vaccin bạch hầu-uốn ván-ho gà (DPT)

- Xử trí vết thương

  • Giữ sạch vết thương. Rửa kỹ vết thương và vùng xung quanh bằng xà phòng và nước sạch. Nếu vết thường bị lẫn đất bẩn, cần đến bác sĩ.
  • Cẩn thận với những vết thương có nguy cơ gây uốn ván, gồm vết thương do châm chích hoặc đứt sâu, vết đốt của côn trùng, nhất là những vết thương bẩn.
  • Dùng kháng sinh. Sau khi rửa sạch vết thương, bôi một lớp kem hoặc mỡ kháng sinh mỏng. Kháng sinh không làm vết thường liền nhanh hơn nhưng có thể ngăn chặn vi khuẩn phát triển và gây nhiễm trùng.
  • Băng vết thương. tiếp xúc với không khí có thể làm vết thương liền nhanh hơn, nhưng băng sẽ giúp giữ cho vết thương sạch và ngăn không cho vi khuẩn xâm nhập. Nên băng cho đến khi vết thương đóng vảy.
  • Thay băng. Thay băng ít nhất mỗi ngày một lần hoặc khi băng bị ướt hoặc bẩn sẽ giúp ngăn ngừa nhiễm trùng.
theo http://www.cimsi.org.vn

Read On 0 nhận xét

Ho gà

Ho gà là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp rất dễ lây, đặc trưng bởi cơn ho khan rũ rượi, tiếp theo là thở hít vào nghe như tiếng rít.

Dấu hiệu và triệu chứng

Triệu chứng thường xuất hiện vài ngày đến vài tuần sau khi lây bệnh. Triệu chứng ban đầu thường nhẹ và giống cảm lạnh: chảy nước mũi, ngạt mũi, hắt hơi, mắt đỏ chảy nước mắt, sốt nhẹ, ho khan, cảm giác khó ở và chán ăn.

Sau một hai tuần, triệu chứng sẽ nặng hơn và thường bao gồm:

  • Những cơn ho dữ dội – một tràng tới 15 tiếng ho liên tiếp - kết thúc bằng tiếng rít âm vực cao khi bệnh nhân hít không khí. Cơn ho có thể dữ dội đến mức khiến mặt trẻ đỏ hoặc tím tái do phải cố sức.
  • Mết mỏi do ho quá nhiều

Dấu hiệu và triệu chứng bệnh ở người lớn tương tự nhe viêm phế quản. Trẻ dưới 2 tuổi bị ho gà có thể hoàn toàn không thở rít hoặc tiếng rít không to như ở trẻ lớn. Ho dữ dội có thể gây ra những chấm đỏ trên do vỡ mạch trên da hoặc ở củng mạch mắt. Ho thường nặng lên vào ban đêm.

Nguyên nhân

Vi khuẩn Bordetella pertussis là thủ phạm gây bệnh ho gà. Vi khuẩn lây lan qua những giọt dịch tiết bắn ra không khí khi người bệnh ho và hắt hơi. Khi xâm nhập vào đường hô hấp, vi khuẩn sẽ nhân lên và sinh ra độc tố cản trở khả năng tống xuất của đường hô hấp. Đờm nhày đặc được tạo thành ở sâu trong đường hô hấp gây ra ho không kìm được. Vi khuẩn cũng gây viêm khiến phế quản bị chít hẹp, khiến bệnh nhân phải cố sức hít vào sau mỗi cơn ho, gây ra tiếng rít.

Xét nghiệm và chẩn đoán

Bệnh có thể khó chẩn đoán trong giai đoạn đầu do khá giống với triệu chứng của các bệnh hô hấp thông thường khác, như cảm lạnh, cúm hoặc viêm phế quản. Bác sĩ có thể chẩn đoán dựa vào nghe tiếng ho. Một số xét nghiệm giúp chẩn đoán xác định gồm:

  • Xét nghiệm và nuôi cấy dịch mũi họng tìm vi khuẩn.
  • Xét nghiệm công thức máu thấy bạch cầu tăng.
  • Chụp X quang phổi.

Điều trị

- Đối với trẻ lớn và người lớn

Khi mới có chẩn đoán, bệnh nhân thường được chỉ định nằm nghỉ tại giường và dùng kháng inh như azithromycin hoặc erythromycin. Mặc dù kháng sinh không chữa khỏi ho nhưng có thể rút ngắn thời gian bị bệnh và thời gian phải cách ly. Có thể phải dùng kháng sinh trong ít nhất 2 tuần hoặc hơn.

Nếu bệnh đã tiến triển sang giai đoạn ho nhiều, kháng sinh không còn hiệu quả nhưng có thể vẫn được chỉ định. Có rất ít thuốc có hiệu quả giảm ho. Các thuốc ho không kê đơn thường ít có tác dụng đối với ho gà. Ho thường hết trong vòng 6 tuần nhưng cũng có thể lâu hơn.

- Đối với trẻ nhỏ

Trẻ cần được điều trị tại bệnh viện để tránh nguy cơ biến chứng. Điều trị bao gồm:

- Kháng sinh đường tĩnh mạch

- Thuốc nhóm corticosteroid để giảm viêm phổi

- Hút đờm, truyền dịch nếu trẻ nôn nhiều gây mất nước, thuốc an thần để giúp trẻ ngủ yên. Theo dõi chặt chẽ hô hấp và cho trẻ thở thêm oxy nếu cần.

- Cách ly trẻ để không lây bệnh sang người khác.

Phòng bệnh

- Tiêm vaccin: Vaccin được tiêm ở dạng phối hợp 3 vaccin bạch hầu-ho gà-uốn ván (DPT). Trẻ cần được tiêm 5 mũi vaccin khi ở độ tuổi 2 tháng, 4 tháng, 6 tháng, 12 – 18 tháng, 4-6 tuổi.

- Kháng sinh dự phòng khi trong nhà có người bị ho gà hoặc khi có tiếp xúc với người bị ho gà.

theo http://www.cimsi.org.vn



Read On 0 nhận xét

Bệnh ghẻ

Ghẻ là một bệnh da liễu gây ngứa do một loại bét nhỏ có tên là Sarcoptes scabiei còn gọi là cái ghẻ gây ra. Bét đào hang trong da và gây ngứa dữ dội. Bệnh dễ lây qua tiếp xúc.

Dấu hiệu và triệu chứng

  • Ngứa nhiều và nặng lên vào ban đêm
  • Những nốt mụn nước nhỏ tạo thành đường ngoằn ngoèo trên da. Hay gặp nhất ở các vùng:

- Kẽ tay

- Nách

- Quanh hông

- Dọc mặt trong cổ tay

- Trên nếp khuỷ tay

- Quanh vú

- Quanh bộ phận sinh dục nam

- Mông

- Khoeo chân

- Nếp gấp dưới xương bả vai.

Nguyên nhân

Cái ghẻ có kích thước rất nhỏ và hầu như không thể nhìn thấy bằng kính lúp. Cái ghẻ đào hang để đẻ trứng dưới da tạo thành những đường hầm ngoằn ngoèo. Trứng phát triển trong 21 ngày và cái ghẻ mới sẽ tìm đường chui lên mặt da để trưởng thành và có thể làm lây bệnh sang người khác. Ngứa do ghẻ là hậu quả của phàn ứng dị ứng của cơ thể với cái ghẻ, trứng và chất bài tiết của chúng.

Xét nghiệm và chẩn đoán

Để chần đoán, bác sĩ sẽ khám da tìm dấu hiệu của cái ghẻ, bao gồm hình ảnh hang ghẻ đặc trưng. Khi xác định được hang ghẻ, bác sĩ có thể lấy một ít da ở vùng này để đem soi kính hiển vi tìm trứng và cái ghẻ.

Điều trị

Hiện có nhiều loại kem và nước bôi để điều trị ghẻ. Thuốc cần bôi khắp người và để nguyên ít nhất 8 tiếng. 2 thuốc hay được kê đơn nhất là permethrin và crotamiton. Mặc dù thuốc sẽ nhanh chóng diệt được cái ghẻ nhưng ngứa có thể còn kéo dài vài tuần. Với những người có hệ miễn dịch suy yếu hoặc không đáp ứng với thuóc bôi tại chỗ, có thể phải dùng thuốc uống. Cần điều trị cho tất cả mọi người trong gia đình.

Phòng bệnh

Để phòng tái phát và phòng bệnh lây sang người khác, cần thực hiện những bước sau:

  • Vệ sinh tất cả quần áo và đồ vải trong nhà. Giặt tất cả quần áo, chăn màn, khăn đã dùng trước khi điều trị bằng xà phòng và nước nóng. Phơi hoặc sấy khô ở nhiệt độ cao.
  • Diệt cái ghẻ. Cho tất cả những vật dụng không thể giặt được vào túi nhựa buộc kín và cất vào một chỗ khuất, ví dụ như cho vào kho trong vài tuần. Cái ghẻ sẽ chết nếu không được ăn trong một tuần.
theo http://www.cimsi.org.vn


Read On 0 nhận xét

Bệnh nấm móng

Bệnh nấm móng (onychomycosis) xảy ra khi một hoặc nhiều móng bị nhiễm nấm. Bệnh chiếm khoảng một nửa số trường hợp bị bệnh ở móng, thường xảy ra khi móng phải liên tục tiếp xúc với môi trường ấm và ẩm ướt. Bệnh khó điều trị và có thể tái phát.

Dấu hiệu và triệu chứng

Có thể nghĩ đến nấm móng nếu một hoặc nhiều móng có biểu hiện:

  • Dày
  • Giòn, dễ gãy vụn
  • Biến dạng
  • Bẹt và xỉn màu, mất vẻ sáng bóng
  • Móng chuyển màu vàng, xanh, nâu hoặc đen do tích tụ các mảnh vụn bên dưới móng.

Móng bị bệnh có thể bị bong ra khỏi nền móng. Có thể có cảm giác đau nhẹ ở đầu các ngón chân ngón tay và ngửi thấy mùi hôi nhẹ ở móng.

Nguyên nhân

Bệnh do một loại nấm thuộc nhóm dermatophytes gây ra. Nhưng nấm men và nấm mốc cũng có thể gây ra bệnh. Nấm có thể xâm nhập qua những vết xước nhỏ giữa móng và nền móng và chỉ gây bệnh nếu móng liên tục phải tiếp xúc với môi trường nóng và ẩm ướt.

Nấm móng hay gặp ở móng chân hơn móng tay vì chân trường bị hạn chế trong môi trường tối, nóng và ẩm của giày. Một lý do nữa là tuần hoàn ở móng chân kém hơn ở móng tay.

Xét nghiệm và chần đoán

- Khi nghi ngờ bệnh nấm móng, bác sĩ sẽ cạo vùng móng bị bệnh để lấy mẫu đem soi kính hiển vi hoặc nuôi cấy nhằm phát hiện nấm.

Điều trị

Thuốc uống

  • Itraconazole
  • Fluconazole
  • Terbinafine

Những thuốc này giúp móng mới không bị bệnh sẽ dần dần thay thế móng cũ. Thường phải uống thuốc từ 6 – 12 tuần nhưng chỉ thấy được kết quả điều trị khi móng mới đã mọc đầy đủ. Có thể mất từ 4 – 12 tháng để loại trừ được bệnh. Không dùng thuốc cho người bị bệnh gan, suy tim ứ huyết hoặc người đang dùng một số loại thuốc khác.

- Sơn móng tay diệt nấm: Ciclopirox (Penlac) thườnndùng cho những trường hợp nhiễm nấm nhẹ. Thuốc được bôi lên vùng móng bị bệnh và da xung quanh 1 lần/ngày. Sau 7 ngày dùng cồn lay sạch những lớp cũ và bôi lớp mới. Có thể phải dùng thuốc trong tới một năm hoặc hơn để loại trừ bệnh.

- Thuốc bôi tại chỗ như econazole nitrate. Thuốc bôi tại chỗ thường không chữa khỏi bệnh nhưng có thể dùng phối hợp với thuốc uống.

Nếu móng bị bệnh quá nặng và gây đau nhiều, có thể phẫu thuật cắt bỏ móng cũ. Móng mới sẽ dần mọc lên để thay thế.

Phòng bệnh

  • Luôn giữ móng chân móng tay ngắn, khô và sạch.
  • Đi tất thích hợp: Tất làm bằng sợi tổng hợp thoát ẩm giúp giữ chân khô hơn là tất côtton hoặc tất len. Thường xuyên thay tất. Thỉnh thoảng cởi giày để chân được thoáng khí.
  • Dùng thuốc xịt hoặc thuốc bột chống nấm
  • Mang găng tay cao su khi phải ngâm tay lâu trong nước
  • Không cắt hoặc châm chích vào vùng da quanh móng
  • Không đi chân đất ở nơi công cộng.
  • Rửa sạch tay sau khi đụng chạm vào móng bị bệnh.
theo http://www.cimsi.org.vn


Read On 0 nhận xét

Bệnh dại

Bệnh dại là một bệnh virus nguy hiểm ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương. Bệnh lây qua nước bọt của động vật bị nhiễm, thường là do bị cắn.


Dấu hiệu và triệu chứng

Triệu chứng thường xuất hiện trong vòng 1 – 3 tháng sau khi nhiễm virus, mặc dù có những trường hợp cá biệt phải 6 tháng sau mới phát bệnh. Khi đã lên cơn dại bệnh nhân hầu như chắc chắn sẽ tử vong.

Triệu chứng ban đầu thường không điển hình, bao gồm sốt, đau đầu, khó ở. Khi bệnh tiến triển, bệnh nhân có thể có những triệu chứng sau:

· Mất ngủ

· Lo âu

· Lú lẫn

· Liệt nhẹ hoặc liệt từng phần

· Kích động

· Hoang tưởng

· Tiết nhiều nước bọt

· Khó nuốt

· Co giật

· Sợ nước

Mức độ và vị trí của vết cắn sẽ quyết định tốc độ khởi phát triệu chứng. Vết cắn nặng ở vùng đầu sẽ gây ra cơn dại nhanh hơn nhiều so với vết cắn ở chân.

Nguyên nhân

Hay gặp nhất là do bị động vật nhiễm virus dại cắn. Một số ít trường hợp bệnh có thể lây qua nước bọt của con vật bị nhiễm khi tiếp xúc với mắt, mũi, miệng hoặc vết thương hở.

Hít phải virus dại cũng là một đường lây, nhưng chỉ gặp ở nhân viên phòng thí nghiệm.

Xét nghiệm và chẩn đoán

Chẩn đoán dựa trên tiền sử bị động vật (chó mèo) nghi dại cắn. Cần bắt giữ con vật để theo dõi. Có thể tiến hành xét nghiệm mô não của con vật để xem nó có bị dại không.

Nếu người bệnh có các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh dại, có thể tiến hành một số xét nghiệm máu, nước bọt, dịch não tuỷ, mô não hoặc mô da lấy từ vùng gáy để xác định hoặc loại trừ bệnh dại.

Điều trị

- Điều trị sau khi tiếp xúc vớiị động vật nghi dại gồm tiêm 1 liều huyết thanh kháng dại và 5 liều vaccin phòng dại trong thời gian 28 ngày. Huyết thanh kháng dại và liều vaccin đầu tiên cần được tiêm càng sớm càng tốt sau khi có tiếp xúc. Huyết thanh kháng dại sẽ được tiêm vào vùng quanh vết cắn và vaccin được tiêm vào bắp tay.

Phòng bệnh

· Tiêm phòng dại cho vật nuôi đúng kỳ hạn .

· Tránh tiếp xúc với những con vật lạ, dù sống hay chết.

· Dặn trẻ không được chơi với những con vật lạ.

· Nếu bị động vật cắn hoặc liếm, cần rửa sạch vết cắn hoặc vùng tiếp xúc bằng xà phòng và nước sạch càng sớm càng tốt.

theo http://www.cimsi.org.vn
Read On 0 nhận xét

Bệnh zona

Zona, còn gọi là bệnh mụn rộp hay giời leo, là một bệnh do virus varicella-zoster gây ra những nốt mụn rộp gây đau. Virus này cũng chính là virus gây bệnh thuỷ đậu. Sau khi bị thuỷ đậu, virus có thể ngủ yên trong hệ thần kinh trong nhiều năm, và sau đó hoạt động trở lại gây ra mụn rộp trong bệnh zona.

Dấu hiệu và triệu chứng

· Cảm giác đau, rát, kiến bò, ngứa, tê bì hoặc cực kỳ nhạy cảm ở một vùng nhất định của cơ thể

· Phát ban đỏ với những nốt mụn rộp chứa đầu dịch bắt đầu mọc một vài ngày sau khi bị đau

· Sốt

· Đau đầu

· Rét run

· Kích ứng dạ dày

Ban zona điển hình chỉ xảy ra ở một bên cơ thể. Nó thường mọc thành một dải mụn rộp từ giữa lưng vòng quanh một nửa người tới xương ức theo đường dây thần kinh mà virus cư trú. Đôi khi ban xảy ra ở một bên mắt hoặc một bên cổ hoặc mặt.

Nguyên nhân

Zona là đợt bùng phát thứ hai của virus thủy đậu (varicella-zoster virus). Bất cứ ai bị thuỷ đậu đều có thể bị zona. Nếu hệ miễn dịch không tiêu diệt hoàn toàn virus trong lần nhiễm bệnh ban đầu, virus còn lại có thể thâm nhập hệ thần kinh và nằm yên trong nhiều năm. Vì những lý do còn chưa rõ, virus có thể hoạt động trở lại và đi theo đường dây thần kinh tới da, gây ra bệnh zona. Bệnh hay gặp hơn ở người già và người bị suy giảm miễn dịch.

Xét nghiệm và chẩn đoán

- Chẩn đoán thường dựa vào tiền sử bị thuỷ đậu, các dấu hiệu và triệu chứng, nhất là dấu hiệu phát ban và mụn rộp đặc trưng.

Điều trị

Mặc dù các đợt zona thường tự khỏi, nhưng điều trị kịp thời có thể làm giảm đau, đẩy nhanh tốc độ liền vết thương và giảm nguy cơ biến chứng.

Bác sĩ sẽ kê đơn các thuốc chống virus đường uống như acyclovir, valacyclovir hoặc famciclovir, bắt đầu trong vòng 48 đến 72 giờ sau khi xuất hiện dấu hiệu đầu tiên của bệnh. Đôi khi thuốc chống virus được phối hợp với corticosteroid để giảm sưng và đau.

Nếu đau nhiều, nhất là trong bệnh đau dây thần kinh sau herpes, bác sĩ có thể kê đơn thuốc giảm đau. Thuốc chống trầm cảm 3 vòng hoặc một số thuốc chống co giật cũng có thể giúp ích. Thuốc mỡ capsaicin bôi tại chỗ hoặc cao dán chứa thuốc giảm đau cũng làm giảm nhẹ triệu chứng.

Phòng bệnh

Tiêm vaccin thuỷ đậu (Varivax). Vaccin được tiêm cho cho trẻ từ 12 – 18 tháng tuổi, trẻ lớn và người lớn chưa từng tiêm vaccin.

theo http://www.cimsi.org.vn



Read On 0 nhận xét

Sốt rét

Sốt rét là một bệnh nhiễm ký sinh trùng lây truyền từ người này sang người khác do muỗi đốt. Bệnh gây ra những cơn sốt kèm theo rét run tái diễn và có thể gây tử vong.


Dấu hiệu và triệu chứng

Bệnh đặc trưng bởi những cơn tái diễn với các dấu hiệu và triệu chứng sau:

  • Rét run từ vừa đến nặng
  • Sốt cao
  • Toát mồ hôi đầm đìa khi hết sốt
  • Cảm giác khó ở

Các triệu chứng khác gồm đau đầu, buồn nôn, nôn, tiêu chảy.

Nguyên nhân

Nguyên nhân gây bệnh sốt rét là ký sinh trùng đơn bào plasmodium. Có khoảng 170 loài plasmodium, nhưng chỉ có 4 loài gây sốt rét ở người là:

  • P. falciparum. Chủ yếu gặp ở châu Phi, gây triệu chứng nặng nhất và chiếm phần lớn các trường hợp tử vong do sốt rét.
  • P. vivax. Chủ yếu gặp ở vùng nhiệt đới của châu Á, gây triệu chứng nhẹ hơn những có thể tồn tại trong gan và gây tái phát bệnh trong nhiều năm.
  • P. malariae. Được phát hiện thấy ở châu Phi, có thể gây triệu chứng sốt rét điển hình nhưng trong một số ít trường hợp có thể nằm yên trong máu mà không gây triệu chứng. Bệnh nhân có thể làm lây ký sinh trùng sang người khác qua vết đốt của muỗi hoặc qua truyền máu.
  • P. ovale. Chủ yếu gặp ở vùng Tây Phi. Tuy hiếm gặp nhưng cũng có thể gây bệnh tái phát.

Xét nghiệm và chẩn đoán

- Xét nghiệm kính phết: Lấy máu làm tiêu bản nhuộm và soi dưới kính hiển vi để tìm ký sinh trùng. 2 mẫu máu lấy cách nhau 6 giờ có thể xác nhận sự có mặt của ký sinh trùng sốt rét là loại ký sinh trùng. Cùng một lúc người bệnh có thể bị nhiễm nhiều loại plasmodium khác nhau.

Điều trị

Bệnh sốt rét, nhất là sốt rét do nhiễm P. falciparum, cần được khám và điều trị kịp thời. Các thuốc chống sốt rét hiện nay gồm

  • Chloroquine
  • Quinine sulfate
  • Hydroxychloroquine
  • Phối hợp sulfadoxine và pyrimethamine
  • Mefloquine
  • Phối hợp atovaquone và proguanil
  • Doxycycline

- Một nhóm thuốc khác thường được kê đơn ở châu Á hiện nay là các dẫn xuất của artemisinin, ví dụ như artesunate.

- Halofantrine đôi khi cũng được dùng để điều trị sốt rét. Không dùng halofantrine cho người đang dùng mefloquine để phòng sốt rét hoặc người bị bệnh tim.

- Primaquine có thể được dùng để chống lại dạng ký sinh trùng ẩn trong gan và phòng ngừa tái phát. Không dùng thuốc cho phụ nữ có thai hoặc người bị thiểu men G6PD (glucose-6-phosphate dehydrogenase).

Phòng bệnh.

- Hiện chưa có vaccin phòng sốt rét. Cách phòng bệnh chủ yếu là ngăn không cho muỗi đốt, bao gồm nằm màn tẩm thuốc diệt muỗi và phun thuốc diệt muỗi trong nhà.

- Điều trị dự phòng bằng các thuốc chống sốt rét .

- Bôi thuốc xua côn trùng như DEET lên vùng da hở và phun thuốc diệt muỗi tại nơi ở.

- Mặc quần áo bảo hộ.

- Nằm màn khi ngủ.

theo http://www.cimsi.org.vn



Read On 0 nhận xét

Bệnh rubella

Rubella, còn được gọi là bệnh sởi Đức, là một bệnh dễ lây do virus đặc trưng bởi những nốt phát ban màu đỏ trên da. Bệnh thường lành tính. Tuy nhiên ở phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu, virus có thể gây tử vong hoặc khuyết tật nặng cho thai nhi.

Dấu hiệu và triệu chứng

Triệu chứng thường xuất hiện 2 – 3 tuần sau khi tiếp xúc với virus, và thường kéo dài 2 – 3 ngày, bao gồm:

  • Sốt nhẹ 39oC trở xuống
  • Đau đầu
  • Hắt hơi hoặc chảy nước mũi
  • Mắt viêm đỏ
  • Hạch sưng to, đau ở vùng cổ, sau gáy và sau tai
  • Những nốt phát ban nhỏ màu hồng bắt đầu từ mặt và nhanh chóng lan ra xuống thân, tay và chân, sau đó hết theo đúng thứ tự đó.
  • Đau nhức khớp, nhất là ở phụ nữ trẻ.

Nguyên nhân

Nguyên nhân gây bệnh rubella là một loại virus lây từ người sang người qua ho, hắt hơi, qua tiếp xúc trực tiếp với chất tiết của người bệnh hoặc lây từ mẹ sang thai nhi. Bệnh có thể lây từ 1 tuần trước khi phát ban đến 1 – 2 tuần sau khi đã ban đã lặn hết.

Xét nghiệm và chẩn đoán

Phát ban do rubella rất giống với nhiều loại phát ban do virus khác. Vì vậy chẩn đoán xác định thường dựa vào nuôi cấy virus hoặc xét nghiệm máu để phát hiện kháng thể kháng rubella trong máu. Sự có mặt của kháng thể cho biết người bệnh đang hoặc đã từng nhiễm rubella hoặc đã tiêm vaccin.

Điều trị

Không có thuốc điều trị nào để rút ngắn diễn biến của bệnh. Và triệu chứng thường là nhẹ không cần điều trị.

Nếu bệnh xảy ra khi mang thai, cần hỏi ý kiến bác sĩ về những nguy cơ đối với em bé. Nếu bệnh nhân muốn tiếp tục giữ thai, có thể tiêm kháng thể hyperimmune globulin để chống lại virus. Cách làm này có thể giảm nhẹ triệu chứng nhưng không hoàn toàn loại trừ nguy cơ bị hội chứng rubella bẩm sinh ở trẻ.

Phòng bệnh

  • Vaccin rubella thường được tiêm ở dạng phối hợp 3 vaccin sởi-quai bị-rubella (vaccin MMR). Vaccin được tiêm cho trẻ từ 12 - 15 tháng tuổi và tiêm nhắc lại khi trẻ được 4 – 6 tuổi. Việc tiêm vaccin là đặc biệt quan trọng đối với các bé gái đề đề phòng bệnh xảy ra sau này khi mang thai.
  • Không nên tiêm vaccin cho:

- Phụ nữ có thai hoặc dự định sẽ có thai trong vòng 4 tuần tới

- Người có phản ứng dị ứng nặng với gelatin hoặc kháng sinh neomycin.

- Người bị ung thư, bệnh máu hoặc bệnh ảnh hưởng đến hệ miễn dịch cần hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tiêm vaccin.

theo http://www.cimsi.org.vn



Read On 0 nhận xét

Tưa miệng (Bệnh nấm Candida miệng)

Tưa miệng là bệnh trong đó nấm Candida albicans phát triển vượt khỏi tầm kiểm soát ở niêm mạc miệng. Bệnh hay gặp nhất ở trẻ nhỏ, người già và người bị suy giảm miễn dịch do bệnh hay do thuốc.

Dấu hiệu và triệu chứng

Những đám màu trắng mịn trên lưỡi, trong má và đôi khi cả ở vòm miệng, lợi và amiđan, có thể đau và chảy máu khi bị cọ xát. Tổn thương có thể lan xuống thực quản (viêm thực quản do Candida) gây ra các triệu chứng như nuốt đau hoặc nuốt khó, cảm giác thức ăn bị mắc lại ở cổ hoặc ở ngực và sốt.

Triệu chứng ở trẻ dưới 1 tuổi và ở phụ nữ nuôi con bú

Triệu chứng ở trẻ sơ sinh khỏe mạnh thường xuất hiện trong vài tuần đầu, ngoài những đám tổn thương màu trắng rải rác trong miệng, trẻ có thể khó bú và quấy khóc. Trẻ cũng có thể làm lây bệnh sang mẹ trong khi bú. Phụ nữ cho con bú bị nhiễm Candida có thể có những triệu chứng sau:

- Núm vú đỏ hoặc nhạy cảm bất thường

- Da ở quầng vú căng và đỏ rực

- Đau núm vú

- Cảm giác đau ở sâu khi cho con bú.

Nguyên nhân

Bệnh xảy ra khi hệ miễn dịch bị suy yếu không kiểm soát được sự phát triển của nấm trên cơ thể. Hệ miễn dịch có thể bị suy yếu do bệnh hoặc do các thuốc như prednisone. Hoặc do kháng sinh phá vỡ sự cần bằng tự nhiên của vi sinh vật trên cơ thể.

Xét nghiệm và chẩn đoán

- Lấy mẫu tổn thương soi dưới kính hiển vi

- Nuôi cấy bệnh phẩm ngoáy họng

- Nội soi kiểm tra thực quản trong trường hợp nghi viêm thực quản do Candida.

- Chụp X quang thực quản có thuốc cản quang

Điều trị

- Ở trẻ khỏe mạnh không bị bệnh gì khác có thể không cần điều trị. Nếu bệnh xảy ra do dùng kháng sinh có thể cho trẻ ăn thêm sữa chua để phục hồi sự cân bằng vi khuẩn tự nhiên. Trẻ bị bệnh dai dẳng có thể cần dùng thuốc chống nấm.

- Ở trẻ còn đang bú mẹ cần điều trị cho cả mẹ và trẻ để tránh lây nhiễm. Có thể dùng thuốc chống nấm nhẹ cho trẻ và kem chốgn nấm để bôi vào đàu vú người mẹ. Nếu trẻ bú bình cần rửa sạch đầu ti của bình hằng ngày.

- Ở người lớn khỏe mạnh có thể điều trị bằng cách ăn sữa chua hoặc uống acidophilus dạng viên nang hoặc dung dịch. Sữa chua và acidophilus không tiêu diệt nấm nhưng giúp phục hồi vi khuẩn chí bình thường trong cơ thể. Nếu cách này không hiệu quả bác sĩ có thể kê đơn thuốc chống nấm.

- Ở người lớn bị suy giảm miễn dịch, bệnh được điều trị bằng thuốc chống nấm dạng viên hoặc dung dịch, liệu trình thường từ 10 – 14 ngày. Trong trường hợp người bị nhiễm HIV giai đoạn muộn Candida albicans đã kháng với các thuốc chống nấm khác, có thể dùng amphotericin B.

Phòng bệnh

- Ăn thêm sữa chua hoặc uống viên nang acidophilus khi phải dùng kháng sinh.

- Điều trị ngay bệnh nấm âm đạo sau khi mang thai hoặc sinh đẻ.

- Bỏ thuốc lá.

- Đi khám răng thường xuyên 6 – 12 tháng một lần.

- Hạn chế đường và những thực phẩm có chứa nấm men, gồm bánh mì, bia và rượu vang. Những thực phẩm này có thể tạo thuận lợi cho sự phát triển của nấm Candida.

theo http://www.cimsi.org.vn



Read On 0 nhận xét
 

MedicineNet Daily News

Medscape Medical News Headlines

WebMD Health


About me | Author Contact | Powered By Blogspot | © Copyright  2008