Dấu hiệu và triệu chứng
Triệu chứng thường xuất hiện khoảng 1 – 3 ngày sau khi tiếp xúc với virus và bao gồm:
Nguyên nhân
Điều trị
Không có thuốc chữa khỏi cảm lạnh. Kháng sinh không có tác dụng chống lại virus gây bệnh. Các thuốc không kê đơn dùng đề chữa cảm lạnh không chữa khỏi bệnh cũng như không làm cho bệnh nhanh khỏi hơn. Dưới đây là những ưu và nhược điểm của một số loại thuốc hay dùng để điều trị cảm lạnh.
Các biện pháp tự chăm sóc khi bị cảm lạnh gồm:
Phòng bệnh
Triệu chứng
Bệnh cúm thường có khởi đầu giống như cảm lạnh với các triệu chứng chảy nước mũi, thờ khò khè và đau họng, song thường có khởi phát đột ngột và nặng lên nhanh chóng. Các dấu hiệu và triệu chứng thường gặp khác gồm:
Nguyên nhân
Có 3 chủng virus gây bệnh cúm là cúm A, B, và C. Virus cúm lây lan qua những giọt dịch tiết bắn vào trong không khí khi người bệnh ho và hắt hơi. Cúm týp A là nguyên nhân gây nên nhiều đại dịch nguy hiểm xảy ra 10 đến 40 năm một lần. Cúm týp B gây ra những ổ dịch nhỏ khu trú hơn. Cả hai týp A và B đều gây bệnh cúm theo mùa lưu hành hằng năm. Cúm týp C chưa bao giờ gây ra đại dịch lớn.
Điều trị
Thông thường bệnh nhân chỉ cần nghỉ ngơi tại giường và uống nhiều nước. Nhưng trong một số trường hợp bác sĩ có thể kê đơn những thuốc chống virus như oseltamivir (Tamiflu) hay zanamivir (Relenza).
Những thuốc này điều trị cả cúm týp A và B, có tác dụng bất hoạt một enzym cần thiết để virus phát triển và lây lan. Nếu được dùng sớm thuốc có thể rút ngắn thời gian có triệu chứng. Cả hai thuốc đều có thể gây những tác dụng phụ như kém minh mẫn, buồn nôn, nôn, chán ăn hoặc khó thở, và có thể dẫn đến sự hình thành virus kháng thuốc..
Phòng bệnh
Dấu hiệu và triệu chứng
- Chốc lở truyền nhiễm: là thể bệnh hay gặp nhất, bắt đầu là một nốt mụn đỏ trên mặt, thường quanh mũi và miệng. Nốt mụn nhanh chóng vỡ ra, chảy dịch hoặc mủ và đóng vảy màu nâu. Cuối cùng vảy sẽ bong ra, để lại một vết đỏ mà không gây sẹo. Nốt mụn có thể ngứa những không đau. Trẻ không sốt nhưng thường bị sưng hạch ở vùng bị bệnh. Và do rất dễ lây nên chỉ cần đụng chạm hoặc gãi vào vết mụn cũng làm cho bệnh lây sang những nơi khác.
- Chốc lở dạng phỏng: chủ yếu xảy ra ở trẻ dưới 2 tuổi, gây ra những nốt phỏng nước chứa đầy dịch và không đau, thường ở thân mình, cánh tay và cẳng chân. Da xung quanh nốt phỏng đỏ và ngứa nhưng không loét. Nốt phỏng sẽ vỡ và đóng vảy màu vàng và có thể lâu liền hơn các dạng chốc lở khác.
- Mụn mủ: là thể nặng nhất trong đó nhiễm trùng thâm nhập sâu vào lớp bì. Các dấu hiệu và triệu chứng gồm:
Nguyên nhân
Hai loại vi khuẩn hay gặp nhất gây chốc lở là tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) và liên cầu (Streptococcus pyogenes). Cả hai đều sống trên da và khi xâm nhập qua vết trầy xước hoặc các vết thương khác sẽ gây bệnh.
Xét nghiệm và chẩn đoán
Chần đoán thường dựa trên quan sát nốt mụn trên da trẻ. Đôi khi bệnh phẩm lấy ở nốt mụn sẽ được nuôi cấy để phát hiện sự có mặt của vi khuẩn.
Điều trị
Điều trị tuỳ thuộc và tuổi của trẻ, thể bệnh và mức độ nặng, bao gồm:
Phòng bệnh
Giữ cho da trẻ sạch sẽ là cách tốt nhất để tránh nhiễm trùng. Xử lý đúng cách các vết trầy xước, vết đốt của côn trùng và các vết thương khác bằng cách rửa sạch vùng bị thương để tránh nhiễm trùng. Nếu trong gia đình có người bị chốc lở, cần áp dụng các biện pháp sau để tránh lây bệnh:
Uốn ván là một bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng gây co cứng các cơ ở hàm và các cơ khác, dẫn đến khó thở và có thể tử vong.
Dấu hiệu và triệu chứng
Cơ co cứng và co thắt khiến bệnh nhân khó nuốt, khó thở, vật vã. Các triệu chứng có thể xuất hiện vài ngày hoặc vài tuần sau khi bị thương. thời gian ủ bệnh thường từ 3 ngày đến 3 tuần, trung bình là 8 ngày.
Nguyên nhân
Vi khuẩn gây bệnh uốn ván là Clostridium tetani, thường được tìm thấy trong đất, bụi và phân động vật. Khi xâm nhập vào vết thương sâu, bào tử của vi khuẩn có thể sinh ra một độc tố mạnh là tetanospasmin, tác động đến những vùng khác nhau của hệ thần kinh. Tác động của độc tố khiến cơ co cứng và co thắt.
Xét nghiệm và chẩn đoán
Chẩn đoán dựa trên khám thực thể và các dấu hiệu cơ co cứng, co thắt và đau. Xét nghiệm cận lâm sàng nói chung không giúp ích cho chẩn đoán uốn ván.
Điều trị
- Kháng độc tố uốn ván. Chỉ có tác dụng trung hòa độc tố chưa kết hợp với mô thần kinh.
- Kháng sinh đường uống hoặc tiêm để chống lại vi khuẩn.
- Thuốc an thần và làm liệt cơ để giảm co thắt.
- Hỗ trợ tuần hoàn, hô hấp như thở máy
Phần lớn các trường hợp bệnh nhân đã lên cơn uốn ván sẽ tử vong mặc dù được điều trị. Tử vong có thể do co thắt cơ hô hấp, viêm phổi hoặc mất chức năng của hệ thần kinh tự động.
Bệnh có thể khỏi hoàn toàn. Tuy nhiên một số bệnh nhân bị di chứng kéo dài do tổn thương não vì thiếu oxy.
Phòng bệnh
- Tiêm vaccin chống lại độc tố uốn ván. Vaccin thường được tiêm cho trẻ ở dạng kết hợp 3 loại vaccin bạch hầu-uốn ván-ho gà (DPT)
- Xử trí vết thương
Ho gà là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp rất dễ lây, đặc trưng bởi cơn ho khan rũ rượi, tiếp theo là thở hít vào nghe như tiếng rít.
Dấu hiệu và triệu chứng
Triệu chứng thường xuất hiện vài ngày đến vài tuần sau khi lây bệnh. Triệu chứng ban đầu thường nhẹ và giống cảm lạnh: chảy nước mũi, ngạt mũi, hắt hơi, mắt đỏ chảy nước mắt, sốt nhẹ, ho khan, cảm giác khó ở và chán ăn.
Sau một hai tuần, triệu chứng sẽ nặng hơn và thường bao gồm:
Dấu hiệu và triệu chứng bệnh ở người lớn tương tự nhe viêm phế quản. Trẻ dưới 2 tuổi bị ho gà có thể hoàn toàn không thở rít hoặc tiếng rít không to như ở trẻ lớn. Ho dữ dội có thể gây ra những chấm đỏ trên do vỡ mạch trên da hoặc ở củng mạch mắt. Ho thường nặng lên vào ban đêm.
Nguyên nhân
Vi khuẩn Bordetella pertussis là thủ phạm gây bệnh ho gà. Vi khuẩn lây lan qua những giọt dịch tiết bắn ra không khí khi người bệnh ho và hắt hơi. Khi xâm nhập vào đường hô hấp, vi khuẩn sẽ nhân lên và sinh ra độc tố cản trở khả năng tống xuất của đường hô hấp. Đờm nhày đặc được tạo thành ở sâu trong đường hô hấp gây ra ho không kìm được. Vi khuẩn cũng gây viêm khiến phế quản bị chít hẹp, khiến bệnh nhân phải cố sức hít vào sau mỗi cơn ho, gây ra tiếng rít.
Xét nghiệm và chẩn đoán
Bệnh có thể khó chẩn đoán trong giai đoạn đầu do khá giống với triệu chứng của các bệnh hô hấp thông thường khác, như cảm lạnh, cúm hoặc viêm phế quản. Bác sĩ có thể chẩn đoán dựa vào nghe tiếng ho. Một số xét nghiệm giúp chẩn đoán xác định gồm:
Điều trị
- Đối với trẻ lớn và người lớn
Khi mới có chẩn đoán, bệnh nhân thường được chỉ định nằm nghỉ tại giường và dùng kháng inh như azithromycin hoặc erythromycin. Mặc dù kháng sinh không chữa khỏi ho nhưng có thể rút ngắn thời gian bị bệnh và thời gian phải cách ly. Có thể phải dùng kháng sinh trong ít nhất 2 tuần hoặc hơn.
Nếu bệnh đã tiến triển sang giai đoạn ho nhiều, kháng sinh không còn hiệu quả nhưng có thể vẫn được chỉ định. Có rất ít thuốc có hiệu quả giảm ho. Các thuốc ho không kê đơn thường ít có tác dụng đối với ho gà. Ho thường hết trong vòng 6 tuần nhưng cũng có thể lâu hơn.
- Đối với trẻ nhỏ
Trẻ cần được điều trị tại bệnh viện để tránh nguy cơ biến chứng. Điều trị bao gồm:
- Kháng sinh đường tĩnh mạch
- Thuốc nhóm corticosteroid để giảm viêm phổi
- Hút đờm, truyền dịch nếu trẻ nôn nhiều gây mất nước, thuốc an thần để giúp trẻ ngủ yên. Theo dõi chặt chẽ hô hấp và cho trẻ thở thêm oxy nếu cần.
- Cách ly trẻ để không lây bệnh sang người khác.
Phòng bệnh
- Tiêm vaccin: Vaccin được tiêm ở dạng phối hợp 3 vaccin bạch hầu-ho gà-uốn ván (DPT). Trẻ cần được tiêm 5 mũi vaccin khi ở độ tuổi 2 tháng, 4 tháng, 6 tháng, 12 – 18 tháng, 4-6 tuổi.
- Kháng sinh dự phòng khi trong nhà có người bị ho gà hoặc khi có tiếp xúc với người bị ho gà.
Ghẻ là một bệnh da liễu gây ngứa do một loại bét nhỏ có tên là Sarcoptes scabiei còn gọi là cái ghẻ gây ra. Bét đào hang trong da và gây ngứa dữ dội. Bệnh dễ lây qua tiếp xúc.
Dấu hiệu và triệu chứng
- Kẽ tay
- Nách
- Quanh hông
- Dọc mặt trong cổ tay
- Trên nếp khuỷ tay
- Quanh vú
- Quanh bộ phận sinh dục nam
- Mông
- Khoeo chân
- Nếp gấp dưới xương bả vai.
Nguyên nhân
Cái ghẻ có kích thước rất nhỏ và hầu như không thể nhìn thấy bằng kính lúp. Cái ghẻ đào hang để đẻ trứng dưới da tạo thành những đường hầm ngoằn ngoèo. Trứng phát triển trong 21 ngày và cái ghẻ mới sẽ tìm đường chui lên mặt da để trưởng thành và có thể làm lây bệnh sang người khác. Ngứa do ghẻ là hậu quả của phàn ứng dị ứng của cơ thể với cái ghẻ, trứng và chất bài tiết của chúng.
Xét nghiệm và chẩn đoán
Để chần đoán, bác sĩ sẽ khám da tìm dấu hiệu của cái ghẻ, bao gồm hình ảnh hang ghẻ đặc trưng. Khi xác định được hang ghẻ, bác sĩ có thể lấy một ít da ở vùng này để đem soi kính hiển vi tìm trứng và cái ghẻ.
Điều trị
Hiện có nhiều loại kem và nước bôi để điều trị ghẻ. Thuốc cần bôi khắp người và để nguyên ít nhất 8 tiếng. 2 thuốc hay được kê đơn nhất là permethrin và crotamiton. Mặc dù thuốc sẽ nhanh chóng diệt được cái ghẻ nhưng ngứa có thể còn kéo dài vài tuần. Với những người có hệ miễn dịch suy yếu hoặc không đáp ứng với thuóc bôi tại chỗ, có thể phải dùng thuốc uống. Cần điều trị cho tất cả mọi người trong gia đình.
Phòng bệnh
Để phòng tái phát và phòng bệnh lây sang người khác, cần thực hiện những bước sau:
Dấu hiệu và triệu chứng
Có thể nghĩ đến nấm móng nếu một hoặc nhiều móng có biểu hiện:
Móng bị bệnh có thể bị bong ra khỏi nền móng. Có thể có cảm giác đau nhẹ ở đầu các ngón chân ngón tay và ngửi thấy mùi hôi nhẹ ở móng.
Nguyên nhân
Bệnh do một loại nấm thuộc nhóm dermatophytes gây ra. Nhưng nấm men và nấm mốc cũng có thể gây ra bệnh. Nấm có thể xâm nhập qua những vết xước nhỏ giữa móng và nền móng và chỉ gây bệnh nếu móng liên tục phải tiếp xúc với môi trường nóng và ẩm ướt.
Nấm móng hay gặp ở móng chân hơn móng tay vì chân trường bị hạn chế trong môi trường tối, nóng và ẩm của giày. Một lý do nữa là tuần hoàn ở móng chân kém hơn ở móng tay.
Xét nghiệm và chần đoán
- Khi nghi ngờ bệnh nấm móng, bác sĩ sẽ cạo vùng móng bị bệnh để lấy mẫu đem soi kính hiển vi hoặc nuôi cấy nhằm phát hiện nấm.
Điều trị
Thuốc uống
Những thuốc này giúp móng mới không bị bệnh sẽ dần dần thay thế móng cũ. Thường phải uống thuốc từ 6 – 12 tuần nhưng chỉ thấy được kết quả điều trị khi móng mới đã mọc đầy đủ. Có thể mất từ 4 – 12 tháng để loại trừ được bệnh. Không dùng thuốc cho người bị bệnh gan, suy tim ứ huyết hoặc người đang dùng một số loại thuốc khác.
- Sơn móng tay diệt nấm: Ciclopirox (Penlac) thườnndùng cho những trường hợp nhiễm nấm nhẹ. Thuốc được bôi lên vùng móng bị bệnh và da xung quanh 1 lần/ngày. Sau 7 ngày dùng cồn lay sạch những lớp cũ và bôi lớp mới. Có thể phải dùng thuốc trong tới một năm hoặc hơn để loại trừ bệnh.
- Thuốc bôi tại chỗ như econazole nitrate. Thuốc bôi tại chỗ thường không chữa khỏi bệnh nhưng có thể dùng phối hợp với thuốc uống.
Nếu móng bị bệnh quá nặng và gây đau nhiều, có thể phẫu thuật cắt bỏ móng cũ. Móng mới sẽ dần mọc lên để thay thế.
Phòng bệnh
Bệnh dại là một bệnh virus nguy hiểm ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương. Bệnh lây qua nước bọt của động vật bị nhiễm, thường là do bị cắn.
Dấu hiệu và triệu chứng
Triệu chứng thường xuất hiện trong vòng 1 – 3 tháng sau khi nhiễm virus, mặc dù có những trường hợp cá biệt phải 6 tháng sau mới phát bệnh. Khi đã lên cơn dại bệnh nhân hầu như chắc chắn sẽ tử vong.
Triệu chứng ban đầu thường không điển hình, bao gồm sốt, đau đầu, khó ở. Khi bệnh tiến triển, bệnh nhân có thể có những triệu chứng sau:
· Mất ngủ
· Lo âu
· Lú lẫn
· Liệt nhẹ hoặc liệt từng phần
· Kích động
· Hoang tưởng
· Tiết nhiều nước bọt
· Khó nuốt
· Co giật
· Sợ nước
Mức độ và vị trí của vết cắn sẽ quyết định tốc độ khởi phát triệu chứng. Vết cắn nặng ở vùng đầu sẽ gây ra cơn dại nhanh hơn nhiều so với vết cắn ở chân.
Nguyên nhân
Hay gặp nhất là do bị động vật nhiễm virus dại cắn. Một số ít trường hợp bệnh có thể lây qua nước bọt của con vật bị nhiễm khi tiếp xúc với mắt, mũi, miệng hoặc vết thương hở.
Hít phải virus dại cũng là một đường lây, nhưng chỉ gặp ở nhân viên phòng thí nghiệm.
Xét nghiệm và chẩn đoán
Chẩn đoán dựa trên tiền sử bị động vật (chó mèo) nghi dại cắn. Cần bắt giữ con vật để theo dõi. Có thể tiến hành xét nghiệm mô não của con vật để xem nó có bị dại không.
Nếu người bệnh có các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh dại, có thể tiến hành một số xét nghiệm máu, nước bọt, dịch não tuỷ, mô não hoặc mô da lấy từ vùng gáy để xác định hoặc loại trừ bệnh dại.
Điều trị
- Điều trị sau khi tiếp xúc vớiị động vật nghi dại gồm tiêm 1 liều huyết thanh kháng dại và 5 liều vaccin phòng dại trong thời gian 28 ngày. Huyết thanh kháng dại và liều vaccin đầu tiên cần được tiêm càng sớm càng tốt sau khi có tiếp xúc. Huyết thanh kháng dại sẽ được tiêm vào vùng quanh vết cắn và vaccin được tiêm vào bắp tay.
Phòng bệnh
· Tiêm phòng dại cho vật nuôi đúng kỳ hạn .
· Tránh tiếp xúc với những con vật lạ, dù sống hay chết.
· Dặn trẻ không được chơi với những con vật lạ.
· Nếu bị động vật cắn hoặc liếm, cần rửa sạch vết cắn hoặc vùng tiếp xúc bằng xà phòng và nước sạch càng sớm càng tốt.
theo http://www.cimsi.org.vnDấu hiệu và triệu chứng
· Cảm giác đau, rát, kiến bò, ngứa, tê bì hoặc cực kỳ nhạy cảm ở một vùng nhất định của cơ thể
· Phát ban đỏ với những nốt mụn rộp chứa đầu dịch bắt đầu mọc một vài ngày sau khi bị đau
· Sốt
· Đau đầu
· Rét run
· Kích ứng dạ dày
Ban zona điển hình chỉ xảy ra ở một bên cơ thể. Nó thường mọc thành một dải mụn rộp từ giữa lưng vòng quanh một nửa người tới xương ức theo đường dây thần kinh mà virus cư trú. Đôi khi ban xảy ra ở một bên mắt hoặc một bên cổ hoặc mặt.
Nguyên nhân
Zona là đợt bùng phát thứ hai của virus thủy đậu (varicella-zoster virus). Bất cứ ai bị thuỷ đậu đều có thể bị zona. Nếu hệ miễn dịch không tiêu diệt hoàn toàn virus trong lần nhiễm bệnh ban đầu, virus còn lại có thể thâm nhập hệ thần kinh và nằm yên trong nhiều năm. Vì những lý do còn chưa rõ, virus có thể hoạt động trở lại và đi theo đường dây thần kinh tới da, gây ra bệnh zona. Bệnh hay gặp hơn ở người già và người bị suy giảm miễn dịch.
Xét nghiệm và chẩn đoán
- Chẩn đoán thường dựa vào tiền sử bị thuỷ đậu, các dấu hiệu và triệu chứng, nhất là dấu hiệu phát ban và mụn rộp đặc trưng.
Điều trị
Mặc dù các đợt zona thường tự khỏi, nhưng điều trị kịp thời có thể làm giảm đau, đẩy nhanh tốc độ liền vết thương và giảm nguy cơ biến chứng.
Bác sĩ sẽ kê đơn các thuốc chống virus đường uống như acyclovir, valacyclovir hoặc famciclovir, bắt đầu trong vòng 48 đến 72 giờ sau khi xuất hiện dấu hiệu đầu tiên của bệnh. Đôi khi thuốc chống virus được phối hợp với corticosteroid để giảm sưng và đau.
Nếu đau nhiều, nhất là trong bệnh đau dây thần kinh sau herpes, bác sĩ có thể kê đơn thuốc giảm đau. Thuốc chống trầm cảm 3 vòng hoặc một số thuốc chống co giật cũng có thể giúp ích. Thuốc mỡ capsaicin bôi tại chỗ hoặc cao dán chứa thuốc giảm đau cũng làm giảm nhẹ triệu chứng.
Phòng bệnh
Tiêm vaccin thuỷ đậu (Varivax). Vaccin được tiêm cho cho trẻ từ 12 – 18 tháng tuổi, trẻ lớn và người lớn chưa từng tiêm vaccin.
Sốt rét là một bệnh nhiễm ký sinh trùng lây truyền từ người này sang người khác do muỗi đốt. Bệnh gây ra những cơn sốt kèm theo rét run tái diễn và có thể gây tử vong.
Dấu hiệu và triệu chứng
Bệnh đặc trưng bởi những cơn tái diễn với các dấu hiệu và triệu chứng sau:
Các triệu chứng khác gồm đau đầu, buồn nôn, nôn, tiêu chảy.
Nguyên nhân
Nguyên nhân gây bệnh sốt rét là ký sinh trùng đơn bào plasmodium. Có khoảng 170 loài plasmodium, nhưng chỉ có 4 loài gây sốt rét ở người là:
Xét nghiệm và chẩn đoán
- Xét nghiệm kính phết: Lấy máu làm tiêu bản nhuộm và soi dưới kính hiển vi để tìm ký sinh trùng. 2 mẫu máu lấy cách nhau 6 giờ có thể xác nhận sự có mặt của ký sinh trùng sốt rét là loại ký sinh trùng. Cùng một lúc người bệnh có thể bị nhiễm nhiều loại plasmodium khác nhau.
Điều trị
Bệnh sốt rét, nhất là sốt rét do nhiễm P. falciparum, cần được khám và điều trị kịp thời. Các thuốc chống sốt rét hiện nay gồm
- Một nhóm thuốc khác thường được kê đơn ở châu Á hiện nay là các dẫn xuất của artemisinin, ví dụ như artesunate.
- Halofantrine đôi khi cũng được dùng để điều trị sốt rét. Không dùng halofantrine cho người đang dùng mefloquine để phòng sốt rét hoặc người bị bệnh tim.
- Primaquine có thể được dùng để chống lại dạng ký sinh trùng ẩn trong gan và phòng ngừa tái phát. Không dùng thuốc cho phụ nữ có thai hoặc người bị thiểu men G6PD (glucose-6-phosphate dehydrogenase).
Phòng bệnh.
- Hiện chưa có vaccin phòng sốt rét. Cách phòng bệnh chủ yếu là ngăn không cho muỗi đốt, bao gồm nằm màn tẩm thuốc diệt muỗi và phun thuốc diệt muỗi trong nhà.
- Điều trị dự phòng bằng các thuốc chống sốt rét .
- Bôi thuốc xua côn trùng như DEET lên vùng da hở và phun thuốc diệt muỗi tại nơi ở.
- Mặc quần áo bảo hộ.
- Nằm màn khi ngủ.
Dấu hiệu và triệu chứng
Triệu chứng thường xuất hiện 2 – 3 tuần sau khi tiếp xúc với virus, và thường kéo dài 2 – 3 ngày, bao gồm:
Nguyên nhân
Nguyên nhân gây bệnh rubella là một loại virus lây từ người sang người qua ho, hắt hơi, qua tiếp xúc trực tiếp với chất tiết của người bệnh hoặc lây từ mẹ sang thai nhi. Bệnh có thể lây từ 1 tuần trước khi phát ban đến 1 – 2 tuần sau khi đã ban đã lặn hết.
Xét nghiệm và chẩn đoán
Phát ban do rubella rất giống với nhiều loại phát ban do virus khác. Vì vậy chẩn đoán xác định thường dựa vào nuôi cấy virus hoặc xét nghiệm máu để phát hiện kháng thể kháng rubella trong máu. Sự có mặt của kháng thể cho biết người bệnh đang hoặc đã từng nhiễm rubella hoặc đã tiêm vaccin.
Điều trị
Không có thuốc điều trị nào để rút ngắn diễn biến của bệnh. Và triệu chứng thường là nhẹ không cần điều trị.
Nếu bệnh xảy ra khi mang thai, cần hỏi ý kiến bác sĩ về những nguy cơ đối với em bé. Nếu bệnh nhân muốn tiếp tục giữ thai, có thể tiêm kháng thể hyperimmune globulin để chống lại virus. Cách làm này có thể giảm nhẹ triệu chứng nhưng không hoàn toàn loại trừ nguy cơ bị hội chứng rubella bẩm sinh ở trẻ.
Phòng bệnh
- Phụ nữ có thai hoặc dự định sẽ có thai trong vòng 4 tuần tới
- Người có phản ứng dị ứng nặng với gelatin hoặc kháng sinh neomycin.
- Người bị ung thư, bệnh máu hoặc bệnh ảnh hưởng đến hệ miễn dịch cần hỏi ý kiến bác sĩ trước khi tiêm vaccin.
Dấu hiệu và triệu chứng
Những đám màu trắng mịn trên lưỡi, trong má và đôi khi cả ở vòm miệng, lợi và amiđan, có thể đau và chảy máu khi bị cọ xát. Tổn thương có thể lan xuống thực quản (viêm thực quản do Candida) gây ra các triệu chứng như nuốt đau hoặc nuốt khó, cảm giác thức ăn bị mắc lại ở cổ hoặc ở ngực và sốt.
Triệu chứng ở trẻ dưới 1 tuổi và ở phụ nữ nuôi con bú
Triệu chứng ở trẻ sơ sinh khỏe mạnh thường xuất hiện trong vài tuần đầu, ngoài những đám tổn thương màu trắng rải rác trong miệng, trẻ có thể khó bú và quấy khóc. Trẻ cũng có thể làm lây bệnh sang mẹ trong khi bú. Phụ nữ cho con bú bị nhiễm Candida có thể có những triệu chứng sau:
- Núm vú đỏ hoặc nhạy cảm bất thường
- Da ở quầng vú căng và đỏ rực
- Đau núm vú
- Cảm giác đau ở sâu khi cho con bú.
Nguyên nhân
Bệnh xảy ra khi hệ miễn dịch bị suy yếu không kiểm soát được sự phát triển của nấm trên cơ thể. Hệ miễn dịch có thể bị suy yếu do bệnh hoặc do các thuốc như prednisone. Hoặc do kháng sinh phá vỡ sự cần bằng tự nhiên của vi sinh vật trên cơ thể.
Xét nghiệm và chẩn đoán
- Lấy mẫu tổn thương soi dưới kính hiển vi
- Nuôi cấy bệnh phẩm ngoáy họng
- Nội soi kiểm tra thực quản trong trường hợp nghi viêm thực quản do Candida.
- Chụp X quang thực quản có thuốc cản quang
Điều trị
- Ở trẻ khỏe mạnh không bị bệnh gì khác có thể không cần điều trị. Nếu bệnh xảy ra do dùng kháng sinh có thể cho trẻ ăn thêm sữa chua để phục hồi sự cân bằng vi khuẩn tự nhiên. Trẻ bị bệnh dai dẳng có thể cần dùng thuốc chống nấm.
- Ở trẻ còn đang bú mẹ cần điều trị cho cả mẹ và trẻ để tránh lây nhiễm. Có thể dùng thuốc chống nấm nhẹ cho trẻ và kem chốgn nấm để bôi vào đàu vú người mẹ. Nếu trẻ bú bình cần rửa sạch đầu ti của bình hằng ngày.
- Ở người lớn khỏe mạnh có thể điều trị bằng cách ăn sữa chua hoặc uống acidophilus dạng viên nang hoặc dung dịch. Sữa chua và acidophilus không tiêu diệt nấm nhưng giúp phục hồi vi khuẩn chí bình thường trong cơ thể. Nếu cách này không hiệu quả bác sĩ có thể kê đơn thuốc chống nấm.
- Ở người lớn bị suy giảm miễn dịch, bệnh được điều trị bằng thuốc chống nấm dạng viên hoặc dung dịch, liệu trình thường từ 10 – 14 ngày. Trong trường hợp người bị nhiễm HIV giai đoạn muộn Candida albicans đã kháng với các thuốc chống nấm khác, có thể dùng amphotericin B.
Phòng bệnh
- Ăn thêm sữa chua hoặc uống viên nang acidophilus khi phải dùng kháng sinh.
- Điều trị ngay bệnh nấm âm đạo sau khi mang thai hoặc sinh đẻ.
- Bỏ thuốc lá.
- Đi khám răng thường xuyên 6 – 12 tháng một lần.
- Hạn chế đường và những thực phẩm có chứa nấm men, gồm bánh mì, bia và rượu vang. Những thực phẩm này có thể tạo thuận lợi cho sự phát triển của nấm Candida.