| Là bệnh dị ứng của toàn thân có biều hiện tại chỗ, thường là những cơn hắt hơi, sổ mũi và tắc mũi. Nguyên nhân - Dị nguyên gây bệnh bao gồm: phấn hoa, bụi nhà, nấm mốc, vải sợi, lông gia súc, gia cầm; một số thức ăn như dâu, dứa, tôm cua, cá; một số thuốc như aspirin, quinin; hoặc vi khuẩn: liên cầu, tụ cầu, trực khuẩn coli... |
Triệu chứng
- Hắt hơi, sổ mũi, tắc mũi kéo dài, thường kèm theo bội nhiễm
Phân loại: có hai loại
ã Viêm mũi dị ứng do phấn hoa: triệu chứng rõ rệt, phát hiện dễ dàng, điều trị có hiệu quả. Bệnh gặp ở người thành thị, xuất hiện vào thời kỳ đầu của mùa hoa.
- Triệu chứng : hắt hơi từng cơn dài, trong nhiều giờ, nước mũi trong, nhiều, ướt đẫm mùi xoa, nhưng không gây hoen ố; ngạt mũi, có cảm giác ngứa khó chịu; nhức đầu, đôi khi cảm giác căng ở vùng xoang mặt.
- Cảm giác rát bỏng ở kết mạc, vòm họng, mắt đỏ, nước mắt ràn dụa, bệnh nhân sợ ánh sáng nhất là vào buổi sáng khi thức dậy.
- Cơn xuất hiện nhiều lần trong ngày, tối dịu đi. Các triệu chứng nặng thêm khi bệnh nhân đi ra ngoài, dạo phố hoặc về nông thôn và người bệnh thấy dễ chịu khi đóng cửa trong nhà hoặc khi trời mưa. Viêm mũi này ít khi gặp ở trẻ em dưới 10 tuổi
ã Viêm mũi dị ứng không có chu kỳ: rất thường gặp.
- Sổ mũi thường xuất hiện khi thức dậy, giảm đi trong ngày và xuất hiện trở lại khi gặp luồng gió, gặp lạnh, tiếp xúc với bụi. Thời gian đầu nước mũi trong, sau đó đặc lại thành mủ, nước mũi chảy thành từng đợt, có khi viêm loét vùng tiền đình mũi;
- Hắt hơi xuất hiện trước sổ mũi, hắt hơi hàng tràng, trường hợp nặng hắt hơi liên tục nhiều giờ trong ngày, gây mệt mỏi, giảm trí nhớ;
- Ngạt mũi thay đổi tùy từng thời gian, thời tiết và theo mùa, mũi tắc không đều nhau, phải thở bằng miệng dẫn đến viêm họng, viêm phế quản.
- ngoài ra còn xuất hiện cảm giác ngứa trong mũi, đau thắt ở gốc mũi, có tiết dịch ứ đọng trong vòm họng làm bệnh nhân luôn phải khạc nhổ.
- Thăm khám niêm mạc mũi: phù nề, nhợt nhạt, phủ dịch nhày loãng, hoặc mủ đặc trắng, vàng, xanh khi có bội nhiễm, ngoài cơn niêm mạc bình thường, không có thay đổi gì đáng kể. Có thể có polip to nhẵn không chảy máu
Điều trị
Tại chỗ: giải quyết nề niêm mạc, sung huyết, xuất tiết, nhiễm trùng ở mũi, xoang. Chọc rửa xoang để chẩn đoán và điều trị
Toàn thân: dùng kháng histamin: phenergan( promethazine) 25mgx2-6viên/ngày; hismanal (astemizole): người lớn 10mgx1viên/ngày, trẻ em trên 2 tuổi 2mg (1ml siro)10kg cân nặng/ngày hoặc một số thuốc chống dị ứng khác như terfenadin, primalan...
- Kháng sinh kết hợp với corticoid nếu có bội nhiễm
Điều trị đặc hiệu: giải mẫn cảm
Phòng bệnh: khó, chủ yếu là bảo vệ môi trường sống, tránh các yếu tố tác động của dị nguyên. Người có bệnh dị ứng cần sống ở nơi thoáng mát, không khí trong lành. Bệnh có tính chất di truyền nên nam nữ có cơ địa dị ứng không nên lấy nhau.
theo http://www.cimsi.org.vnPhẫu thuật nội soi mũi xoang (FESS - Functional Endoscopic Sinus Surgery) là phẫu thuật xoang qua đường mũi với sự hướng dẫn của ống nội soi. Từ sau các báo cáo của Kennedy & Stammberger về công trình nghiên cứu ứng dụng ống nội soi cứng để chẩn đoán và điều trị viêm mũi xoang tại Hoa Kỳ, phẫu thuật nội soi mũi xoang bắt đầu được phổ biến và phát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới. Mục tiêu của phẫu thuật nội soi mũi xoang là phục hồi sự thông khí và dẫn lưu của phức hợp lỗ thông mũi xoang, giúp cho niêm mạc trong các xoang tự hồi phục về cấu trúc và chức năng
Viêm mũi xoang mãn tính Phẫu thuật nội soi mũi xoang
2. Ưu điểm
- Ưu điểm vượt trội trong gia tăng độ chiếu sáng, rõ nét và khả năng quan sát các mốc giải phẫu trong hốc mũi, thầy thuốc dễ tiếp cận và đánh giá một cách chính xác các bệnh lý sâu trong hốc mũi.
- Lấy bỏ sạch bệnh tích, đồng thời bảo tồn tối đa niêm mạc lành, kể cả niêm mạc bệnh lý còn có thể hồi phục được, tránh nạo bỏ niêm mạc triệt để như trong phẫu thuật tiệt căn trước đây. Chính sự phục hồi niêm mạc xoang là cơ sở của sự lành bệnh.
- Phẫu thuật nhẹ nhàng, chính xác hơn mổ dưới ánh sáng của đèn Clar.
- Không cần nằm viện, có thể về nhà trong nhà.
- Phẫu thuật an toàn, ít biến chứng.
3. Phẫu thuật nội soi mũi xoang được thực hiện như thế nào?
- Chỉ định phẫu thuật nội soi mũi xoang (FESS):
+ Viêm mũi xoang mãn tính, điều trị nội khoa thất bại.
+ Polyp mũi.
Phòng mổ nội soi xoang mũi tại BV Hoàn Mỹ Sài Gòn
- Thời gian FESS khoảng 1 giờ.
- Sau mổ, bệnh nhân sẽ được đặt 2 miếng xốp (merocel) vào 2 bên hốc mũi để cầm máu. Hai miếng xốp này được lấy ra từ 24 đến 48 giờ sau phẫu thuật.
- Tỉ lệ thành công của FESS: 80-90% bệnh nhân giảm triệu chứng và hài lòng với kết quả FESS.
* Nghẹt mũi, đau mặt, nhức đầu: kết quả tốt.
* Chảy mũi sau: Chỉ 50% bệnh nhân có cải thiện.
* Mất mùi có thể phục hồi sau FESS, nhưng mất vài tháng điều trị sau mổ với steroid xịt mũi.
* Nếu có polyp: có thể tái phát ở 50% bệnh nhân, xảy ra nhiều năm sau phẫu thuật thành công.
4. Những điều cần làm trước khi phẫu thuật
- Nhịn ăn 6 giờ trước phẫu thuật.
- Thông báo cho bác sỹ biết những thuốc bạn đã và đang sử dụng bởi vì có một số thuốc ảnh hưởng đến quá trình đông máu.
5. Những điều cần biết sau phẫu thuật
- Sau phẫu thuật, bạn sẽ tỉnh dậy ở phòng hồi sức. Trong mũi của bạn bây giờ có 2 miếng xốp cầm máu, do đó bạn chỉ có thể thở được bằng đường miệng. Có thể có một ít máu trong mũi hoặc miệng của bạn, điều này là bình thường và sẽ hết sau đó. Lúc này bạn sẽ có cảm giác mệt, đau ở họng, nghẹt mũi, và khát nước. Bạn nên khạc ra hết những chất tiết, máu trong miệng, điều dưỡng sẽ theo dõi mạch, huyết áp và nhịp thở thường xuyên. Nếu bạn có bất cứ sự khó chịu gì, vui lòng báo cho điều dưỡng biết, họ sẽ giúp đỡ bạn trong lúc này. Bạn có thể uống được một ít nước nếu bạn có nhu cầu. Bạn được khuyên là không nên ăn uống nhiều vì dễ bị nôn.
6. Khi nào bạn có thể về nhà được
Sau phẫu thuật FESS, bạn có thể về nhà trong ngày. Sau FESS, bạn sẽ có cảm giác như bị cảm cúm trong một đến hai tuần đầu bởi vì niêm mạc mũi sẽ bị phù nề sau phẫu thuật giống như trong bệnh cảnh nhiễm siêu vi. Bạn sẽ thấy có đàm nhầy, máu bầm chảy từ mũi xuống họng kéo dài khoảng 3 tháng sau mổ. Điều bày là bình thường, không có gì phải lo lắng.
7. Những điều nên tránh trong 2 tuần đầu sau phẫu thuật
- Thuốc lá, khói, bụi.
- Công việc nặng, kể cả thể dục thể hình.
- Xì mũi mạnh, xì mũi nhẹ nhàng thì được, nhất là sau khi rửa mũi.
- Tiếp xúc với những người bị cảm cúm.
- Không uống nhiều rượu bia.
- Bơi lặn.
Polýp mũi xoang (PMX) là hệ quả của một sự thoái hoá phù nề nhiều chỗ của niêm mạc mũi có bản chất viêm mạn tính. PMX là u lành tính thường gặp nhất ở vùng mũi xoang, hiện diện trên hơn 25% BN bị suyễn, viêm mũi và viêm mũi xoang mạn tính. Vị trí xuất phát thường là niêm mạc thành ngoài hốc mũi, ở khe mũi giữa, ở xoang sàng trước, xoang hàm.(1) Từ xoang, mô bệnh chui qua lỗ thông mũi xoang để vào trong hốc mũi. Khám thấy được u dạng polýp bằng soi mũi trước hay nội soi.
Về đại thể: Ðiển hình là những khối mềm, trơn láng, hơi trong suốt, có màu hồng, xanh xám, ngả vàng, ít chảy máu. Polyp? mũi có khi đơn độc, nhưng thường mọc thành chùm, chiếm đầy hốc mũi, các xoang, cả hai bên. Vi thể:(1,2) tổn thương đa dạng, ở nhiều mức độ khác nhau. + Biểu bì: bị thoái triển thành biểu bì đa tầng, nổi bật là sự hư? hoại của tế bào lông, màng đáy dày lên và không liên tục. + Mô đệm có những biến đổi rõ nhất: Tình trạng giãn rộng của các tuyến nhày thành nang, kích thước không đều. Vắng mặt các tuyến nhày-thanh dịch (vốn là đặc trưng của niêm mạc cuốn giữa và dưới). Sự tụ tập các loại tế bào viêm, đặc biệt là các tế bào đa nhân ái toan. Nguyên nhân và bệnh sinh của PMX vẫn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn. Gần đây nhiều thành tựu trong nghiên cứu cơ bản cho thấy bệnh sinh chủ yếu của PMX là tình trạng viêm thường trực, mạn tính tại chỗ. Bệnh lý này do nhiều nguyên nhân phối hợp: giải phẫu, di truyền, dịch thể, tế bào, thần kinh, nhiễm trùng, chấn thương. Bệnh có khi bệnh xuất hiện nguyên phát, có khi phối hợp với những bệnh khác như suyễn, tam chứng Widal, viêm nang xơ. PMX có thể là một biểu hiện của rối loạn niêm mạc đường hô hấp của tuyến ngoại tiết (như muco-viscodose), bệnh của chất nhầy (hội chứng Young), bệnh của lông chuyển như rối loạn vận động lông chuyển nguyên phát. Triệu chứng chính gây ra bởi polýp mũi là nghẹt mũi và mất khứu giác. Mục đích của trị liệu là lấy bỏ polýp đi. Có thể dùng hai cách: nội khoa và phẫu thuật. Dành cho các polýp còn nhỏ và vừa. PMX được thành lập cơ bản là do phản ứng viêm, vậy phải điều trị bằng thuốc kháng viêm. Các loại gluco-corticoid là những thuốc được chọn hàng đầu. Gluco-corticoid là những chất kháng viêm mạnh, dùng theo đường toàn thân và tại chỗ đều có tác dụng tốt. Ðiều không may là polýp thường tái phát sau khi ngưng thuốc. Tác động? cơ bản của glucocorticoid là ngăn trở hoạt động của phospholipase A2 qua trung gian lipocortin. Thuốc chận đứng quá trình viêm từ đầu ở phản ứng tạo arachidonic acid từ phospholipid màng và do vậy, ngăn chận sự tạo lập prostaglandin và leucotrien. Qua cơ chế này, thuốc tác động lên mọi giai đọan của quá trình viêm trong mô: - Giai đoạn mạch máu: điều chỉnh lại tình trạng giãn mạch, điều chỉnh độ thẩm thấu của thành mạch. Như vậy làm giảm phù nề và giảm đau. - Giại đoạn tế bào: giảm hóa ứng động, giảm tụ tập của tế bào viêm, giảm hoạt động thực bào, củng cố màng của các lysosom của các tế bào đa nhân và thực bào, ngăn chận sự phóng thích các enzym làm duy trì và phát triển hiện tượng viêm. - Giai đoạn thành sẹo: với tác động trên những yếu tố tăng trưởng, tác động trên sự tăng sinh các tế bào sợi, tác động trên sự tổng hợp collagen và mucopolysacharid. Tuy nhiên, glucocorticoid có nhiều tác dụng phụ từ hoạt tính mineralocorticoid như: nguy cơ cao huyết áp, mất potassium và giữ nước. Có thể gây tiểu đường, làm chậm phát triển cơ thể và loãng xương. Làm teo cơ bởi tác dụng ngăn trở sự tổng hợp protein. Do ức chế hoạt động của trục vỏ não-thượng thận, glucocorticoid gây nguy cơ suy thượng thận khi ngưng thuốc hay khi có agression. Ngoài ra glucocorticoid còn gây loét dạ dày tá tràng, ảnh hưởng tâm thần kinh. Những tác dụng phụ khá nguy hại của glucocorticoid khiến thầy thuốc phải cân nhắc lợi hại khi cho toa, sao cho sự trị liệu đạt hiệu quả tối đa với một nguy cơ tối thiểu. Ðây là nguyên nhân thúc đẩy khuynh hướng thiên về dùng glucocorticoid tại chỗ hơn là toàn thân. Có rất ít những nghiên cứu về chỉ định, liều lượng, cách dùng và kết quả của việc trị liệu PMX bằng glucocorticoid đường toàn thân. Peynègre và Serrano(3) nêu 3 cách dùng glucocor-ticoid: - Ðiều trị liên tục: không dùng cho PMX trừ khi BN bị kèm theo suyễn nặng-lệ thuộc glucocorticoid. - Ðiều trị ngắn hạn: dùng không quá 10 ngày. Cách dùng này cho phép ngưng glucocorticoid đột ngột, không cần cho liều giảm lần. Nên dùng loại glucocorticoid có thời gian bán hủy ngắn như prednison, prednisolon, methyl-prednisolon. Dùng một liều duy nhất 1mg/kg /ngày, uống vào buổi sáng, đúng vào chu kỳ sinh học tiết glucocorticoid của cơ thể. Có hiệu quả cao trên PMX. Nếu có bội nhiễm, dùng thêm kháng sinh. Không cần theo dõi gì đặc biệt đối với BN. Tuy nhiên, không nên dùng quá 3 lần trong một năm. - Ðiều trị theo chu kỳ: Trường phái Pháp [Rouvier]. Dùng glucocorticoid dài ngày, theo những qui tắc nhất định. Thường dùng tiếp theo sau một đợt điều trị ngắn hạn. Cho liều tối thiểu có hiệu quả (0,1-0,3 mg/kg/ngày). Nên chọn prednisolon hay prednison. Ví dụ: - Uống một liều, hai ngày một lần, trong một tuần. - Rồi uống một tuần, nghỉ một tuần, trong hai tháng; - Rồi uống một tuần, nghỉ hai tuần, trong hai tháng; - Rồi uống một tuần, nghỉ ba tuần, trong hai tháng. Với kiểu dùng thuốc này, BN buộc phải được theo dõi sát những hằng số sinh học, theo chế độ kiêng muối, giảm ăn chất bột. Sự kiểm soát thường khó khăn vì mức độ đáp ứng với glucocorticoid của từng BN rất khác nhau. Theo Bernstein,(1) glucocorticoid đường toàn thân chỉ định cho những trường hợp polýp nặng, gây tắc mũi. Chủ trương dùng ngắn hạn (không quá 2-3 tuần). Nếu không hiệu quả, nên phẫu thuật, nếu có hiệu quả, tiếp tục dùng corticoid tại chỗ.? Liều lượng dùng Prednisolon: - 40mg/ ngày/ trong 3 ngày. - 30mg/ ngày/ trong 3 ngày - 20mg/ ngày/ trong 3 ngày - 10mg/ ngày/ trong 3 ngày - cuối cùng cho 3 lần 10mg, mỗi 2 ngày Từ 1962, thử nghiệm lần đầu tiên bằng dexamethason cho thấy có nhiều phản ứng phụ toàn thân và tại chỗ. [Boxer]. Năm 1974, một tiến bộ quan trọng tổng hợp được thế hệ thứ hai của glucocorticoid là beclomethason dipropionat. Sau đó là các glucocorticoid dùng tại chỗ mới lần lượt xuất hiện: flunisolid, budesonid, fluticason. với hoạt tính cao hơn, liều sử dụng ít hơn, an toàn hơn Hiện nay, đây là phương pháp tốt nhất được chọn lựa do những đặc tính: - Tác dụng trực tiếp, hiệu quả cao trên vùng mũi xoang. Howland, 1996(4) đã so sánh tác dụng của fluticason tại chỗ và toàn thân trong thí nghiệm điều trị viêm mũi dị ứng bằng fluticason propionat trên 4 nhóm BN trong 2 tuần: Nhóm 1 được dùng fluticason propionat tại chỗ 200microgram/ ngày. Nhóm 2 dùng fluticason propionat uống, 5mg/ ngày. Nhóm 3 dùng fluticason propionat uống, 10mg/ ngày. Nhóm 4 dùng giả dược. Kết quả được đánh giá bởi thầy thuốc và BN: các triệu chứng nhảy mũi, chảy mũi, nghẹt mũi, ngứa trong mũi giảm rõ rệt ở nhóm dùng tại chỗ so với 2 nhóm sử dụng thuốc uống. - Glucocorticoid tại chỗ có tác dụng rõ rệt trên các tế bào viêm. Nghiên cứu của Johnson M.(5)1995 qua trên BN dùng Fluticason propionat xịt tại mũi cho thấy Fluticason propionat ức chế đáng kể số lượng dưỡng bào (mast cell) trong niêm mạc mũi, ngăn chặn sự giải hạt của tế bào này. Ngoài ra còn ức chế sự tăng sinh tế bào lympho T, giảm lượng interleukin-5 (IL-5) và giảm yếu tố kích hoạt tiểu cầu (platelet activating factor) là yếu tố kích thích sự tập trung eosinophil tại phổi. - Glucocorticoid tại chỗ làm giảm rõ rệt kích thước polýp. Homberg K., Juliusson S., năm 1997,(6)? thử nghiệm dùng glucocorticoid tại chỗ trên 55 BN bị polýp mũi lâu ngày trong thời gian 26 tuần. Nhóm 1 dùng fluticason propionat tại chỗ, 200 mg x 2 lần/ ngày. Nhóm 2 dùng beclomethason dipropionat tại chỗ 200 mg/ 2 lần/ ngày. Nhóm 3 dùng giả dược. Kết quả được đánh giá dựa trên triệu chứng nghẹt mũi, kích thước polýp (thang điểm polyp) và lưu lượng đỉnh khí hít vào qua mũi (peak nasal inspiratory flow). Có sự cải thiện các triệu chứng và giảm kích thước polyp trên tất cả BN, tăng lưu lượng đỉnh khí hít vào qua mũi rõ rệt ở hai nhóm dùng fluticason propionat và beclomethason so với nhóm chứng sau 14 tuần. Nhóm dùng fluticason propionat cho thấy thời gian thuốc có tác dụng đạt nhanh hơn nhóm beclomethason. Không có khác biệt về độ dung nạp giữa hai chất trên. Johansen,(7)1993 chứng minh hiệu quả của gluco-corticoid trên kích thước polyp trong một nghiên cứu mù đôi, đa trung tâm (4 ở Ðan mạch và 1 ở Thụy điển). Thuốc dùng là? budesonid, 50 mL mỗi bên mũi/ 2lần /ngày= 400 mg và giả dược. Polyp được phân loại theo: độ 0? (không có polýp), độ 1 (polýp nhẹ -? polýp nhỏ, còn ở trên tầm bờ trên của cuốn dưới, gây nghẹt mũi nhẹ), độ 2? (polýp trung bình - ngang tầm của bờ trên và bờ dưới cuốn dưới, gây nghẹt mũi), độ 3 (polýp nặng - vượt quá bờ dưới của cuốn dưới, bít tắc hốc mũi). BN được phân loại dựa trên polýp lớn nhất của một bên mũi và tổng của polýp hai bên. Chỉ đưa vào nghiên cứu các BN có polýp ở độ 2 hoặc nhỏ hơn. Kết quả cho thấy kích thước của các polýp nhỏ và trung bình giảm đáng kể trong đa số các trường hợp. Thuốc không có tác dụng đáng kể trên các polýp độ 3. Tính chung, khoảng 32% BN có điểm polyp? không thay đổi sau 3 tháng. Có lẽ cần liều cao hơn (800 mg) và có thể còn có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến polýp. Các triệu chứng kèm theo như nghẹt mũi, nhảy mũi, chảy mũi giảm rõ rệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng. - Dung nạp thuốc tại chỗ tốt. 1. Phản ứng phụ tại chỗ hiếm, nhẹ, thường thoáng qua: kích thích niêm mạc, khô mũi, chảy máu mũi.thường chỉ xuất hiện lúc khởi đầu trị liệu rồi giảm dần. 2. Tránh được những phản ứng phụ nếu dùng đường toàn thân. Gần như không có phản ứng phụ toàn thân: tác dụng trên toàn thân yếu, thời gian bán hủy trong huyết tương ngắn, được chuyển hóa trong gan nhanh chóng và mạnh mẽ trở thành những chất không hoạt tính. 3. Liều trị liệu rất thấp hơn liều độc. 4. Thời gian bắt đầu có tác dụng tùy theo loại thuốc. Từ vài ngày (beclomethason) đến chỉ còn vài giờ đối với thuốc thế hệ mới (fluticason). 5. Cách sử dụng đơn giản: Ða số các thuốc đều có liều dùng xịt 2 lần/ngày (beclomethason, triamcinolon, budesonid. Chỉ cần dùng 1 liều đối với các thế hệ thuốc mới hơn: fluticason, mometason.) Bernstein, 1997, nêu phác đồ: - Nếu polýp chưa gây nghẹt mũi: dùng glucocorticoid tại chỗ trong 4-6 tuần. - Beclometason: xịt 2 lần mỗi bên mũi/ 2-4 lần/ngày - Budesonid: xịt 2 lần mỗi bên mũi/ 2 lần/ ngày hay xịt 1 lần 4 cái vào buổi sáng. - Flunisolid: xịt 2 lần mỗi bên mũi/ 2 lần/ ngày. - Fluticason: xịt 2 lần mỗi bên mũi/ 1 lần/ ngày. - Triamcinolon:? xịt 2 lần mỗi bên mũi/ 1 lần/ ngày. - Nếu polýp không giảm thì điều trị ngắn hạn: Dùng prednisolon 40mg / ngày trong 3 ngày; 3 ngày kế tiếp dùng 30mg / ngày, 20mg trong 3 ngày, rồi 10mg trong 3 ngày; cuối cùng dùng thêm 10mg mỗi 2 ngày trong 6 ngày. Không nên dùng glucocorticoid toàn thân quá 2-3 tuần. Nếu hết đợt trị liệu không hiệu quả, nên nghĩ dến phẫu thuật. Không nên dùng glucocorticoid tại chỗ trước cho những BN bi polýp quá lớn. Nên khởi đầu bằng đường toàn thân. Nếu có hiệu quả, tiếp tục bằng xịt tại chỗ. - Thuốc chống dị ứng có vai trò giới hạn, chỉ dùng phối hợp khi có bằng chứng về dị ứng. - Thuốc tác dụng trên bơm natrium và kalium được chứng minh tác dụng trong vài nghiên cứu,(2) áp dụng trên người còn hạn chế: - Furosemid - Amilorid. - Thuốc kháng sinh: không thể thiếu được trong tình trạng viêm mũi xoang bội nhiễm, những chất tan đàm (Mucofluidifiants) có tác dụng hỗ trợ. - Crenothérapie. - Nước muối sinh lý: rửa mũi. Thường phải phối hợp phẫu thuật với trị liệu nội khoa.(8) Mục đích phẫu thuật nhằm: - Tái lập chức năng của mũi, loại bỏ polyp, làm thông thoáng mũi, tái lập đường dẫn lưu từ các xoang. - Ðiều chỉnh các yếu tố bất thường trong cấu trúc của mũi mà các cấu trúc này tạo thuận lợi cho sự thành lập và tồn tai của polyp. - Loại bỏ mô polýp là nơi tích tụ các yếu tố tăng trưởng, các tế bào viêm là nguyên nhân của polyp. - Polýp lớn gây tắc nghẽn đường thở - Polýp gây mất khứu giác, không đáp ứng với trị liệu nội khoa. - Polýp tái phát, xơ hóa. - Polýp tái phát gây biến chứng viêm tai, viêm đường hô hấp dưới, kích hoạt cơn suyễn.ngăn trở sự lành bệnh của viêm mũi xoang nhiễm trùng. - Dị dạng giải phẫu học của mũi xoang: lệch vách ngăn, concha bullosa, quá phát cuốn dưới, VA tồn lưu. Có nhiều kỹ thuật mổ: - Cắt polýp đơn thuần: dùng khi mũi bị tắc bởi vài polýp lớn, có thể thực hiện với gây tê tại chỗ. - Mổ qua nội soi, mổ nội soi mũi xoang chức năng (FESS- Functional endoscopic sinus surgery) có thể dùng trong nhiều chỉ định: - Cắt chính xác những polýp nhỏ nằm ở những vị trí quan trọng như khe giữa, lỗ thông mũi xoang, vùng dẫn lưu của xoang sàng trán.để cắt đứt vòng luẩn quẩn của viêm mũi xoang. FESS là một chỉ định tốt cho các polýp tái phát, không đáp ứng với corticoids. - Trong FESS, có thể kết hợp dùng LASER để đốt polýp hay dùng dụng cụ vi phẫu cắt lọc (microdebrider). - Cắt polýp và mổ xoang (hàm-sàng -bướm) kèm theo qua nội soi hay với kính hiển vi: - Khi BN bị viêm mũi xoang tái phát hay phải cắt polýp nhiều lần trong năm và có những bằng chứng tổn thương xoang trên CT scan. - Bệnh nhân bị kèm theo suyễn hay không dung? nạp aspirin thường bị polýp nặng hơn và bệnh dễ tái phát hơn nên thường có chỉ định mổ. Friedman,(8) 1982 thực hiện phẫu thuật mổ sàng-bướm trên 55 BN có polýp kèm viêm mũi xoang tái phát và suyễn, ghi nhận rằng đa số BN có thể ngưng dùng hay giảm liều corticoid trong một thời gian dài; duy trì được mũi thông thoáng và tránh hay giảm được tần suất viêm mũi xoang tái phát. Suyễn giảm hẳn sau khi tái? lập được chức năng của mũi. Dù phẫu thuật đã được thực hiện tốt, polýp vẫn tái phát vì phẫu thuật không trị dứt được bản chất viêm của bệnh polýp. Trong điều trị bệnh polýp mũi, tuy phẫu thuật? có vai trò quan trọng, kháng viêm tại chỗ vẫn là trị liệu cơ bản, lâu dài. Nghẹt mũi kéo dài - ngửi kém - mất ngửi Soi mũi trước - nội soi mũi Nếu thấy pôlýp mũi Xịt? steroid mũi 4 tuần liền Ðáp ứng Không đáp ứng UỐNG STEROID Ðáp ứng Không đỡ Phẫu thuật Sơ đồ điều trị polýp mũi xoang (theo hội nghị Bali, 2/1999) Ðiều trị PMX là một công việc lâu dài và thường xuyên. Trong đa số các trường hợp cần sự phối hợp chặt chẽ giữa điều trị nội khoa và phẫu thuật.Ðiều trị NỘI KHOA
Dùng glucocorticoid?
Ðiều trị bằng glucocorticoid toàn thân:
Ðiều trị bằng glucocorticoid tại chỗ:
Vài thuốc khác:
Ðiều trị PHẪU THUẬT:?
Chỉ định:
Phương pháp:
Vai trò của corticoid tại chỗ trong việc phòng ngừa polýp tái phát:
Tiếp tục xịt steroid mũi
Kết luận
Biểu hiện toàn thân nặng hơn, triệu chứng đột ngột, sốt cao, có thể, có rét, đau mình mẩy, lây truyền nhanh có thể thành dịch...
1.2.2. Viêm mũi do sởi:
Viêm mũi là dấu hiệu đầu tiên của sởi, chảy mũi lẫn máu kéo dài, mắt và hệ thống lệ đạo cũng bị viêm, chảy nước mắt mi mắt phù nề, màng tiếp hợp đỏ, tiếng nói khàn, ho nhiều đôi khi có khó thở nhẹ.
1.2.3. Viêm mũi do thủy đậu:
Thấy ít nốt phổng ở tiền đình mũi, chảy nhiều mũi nhầy, viêm lóet niêm mạc cuốn mũi và vách ngăn, nên khi khỏi bệnh có thể để lại sẹo dăn dúm, teo niêm mạc... tuổi bị bệnh hay gặp từ 2-4 tuổi trở lên.
1.2.4.Viêm mũi bạch hầu:
Có thể nguyên phát hoặc thứ phát, có giả mạc trắng ngà ở mũi và họng. Đầy đủ tính chất đặc trưng của giả mạc bạch hầu. Cần nhuộm soi tươi ngay hoặc lấy giả mạc cấy tìm trực khuẩn bạch hầu.
1.2.5. Viêm mũi ở hài nhi:
Lâm sàng thường nặng nề. Chảy mũi, ngạt mũi, khó bú, bỏ bú, nôn mửa, sốt, dấu hiệu nhiễm trùng rõ rệt, không tăng cân... Lưu ý nếu kèm viêm đường hô hấp dưới như viêm thanh quản, phế quản, viêm phổi...tiên lượng càng nặng...
1.2.6. Viêm mũi do lậu ở trẻ nhỏ:
Lây từ âm đạo mẹ, sau sinh 3-4 ngày. Mũi, môi sưng vều, đỏ, chảy mũi vàng, xanh, tắc mũi hoàn toàn, không bú được, mắt cũng sưng mọng, mí mắt không mở được, màng tiếp hợp đỏ, phù nề...
1.2.7. Viêm mũi do dị vật:
Thường gặp tuổi nhà trẻ mẫu giáo, 2-6 tuổi bị mắc dị vật trong mũi lâu ngày không được phát hiện, lâm sàng ngạt mũi, chảy mũi rất thối, màu xanh, vàng có thể có lẫn máu...đôi khi có sốt, thường chỉ một bên mũi.
1.2.8. Viêm mũi lao:
Có 2 thể: Lupus và viêm lóet niêm mạc mũi do lao. Triệu chứng vùng tiền đình, cuốn mũi dưới, niêm mạc vách ngăn có những nốt nhỏ màu hơi đỏ, dần dần có mủ rồi hoại tử, làm sẹo co dúm gây hẹp hốc mũi...chẩn đoán dựa vào sinh thiết.
1.2.9. Viêm mũi giang mai:
Thường chỉ ở giai đoạn III. Lâm sàng sưng đau các xương vùng mũi, chảy mũi mủ, lóet hoại tử, sưng hạch vùng đầu mặt cổ, cuối cùng sập sống mũi hình yên ngựa...Chẩn đoán dựa vào phản ứng huyết thanh và sinh thiết.
1.3.. Giải phẩu bệnh:
Hiện nay người ta đã phân lập được trên 100 loại Virus từ Virus cúm có thời gian ủ bệnh khác nhau (1-3 ngày). Với những nhiễm Virus có tính nhỏ giọt, với sức đề kháng của cơ thể thay đổi, triệu chứng có thể bị lu mờ, không rầm rộ.
Do viêm, niêm mạc mũi xung huyết thâm nhiễm bởi các tế bào tròn, bong tế bào, thoát quản bạch cầu, chảy mũi, lúc đầu trong sau nhầy mũi, rồi có mủ thực sự... Cuốn dưới phì đại, các hồ huyết ứ đầy máu, nhưng còn đáp ứng tốt với các thuốc co mạch...
1.4. Chẩn đoán:
1.4.1. Chẩn đoán xác định:
Lúc đầu rất khó chẩn đoán là chảy mũi dơn thuần do nhiễm Vỉus tại mũi hay nhiễm Virus nặng từ các bệnh khác gây ra. Chủ yếu dựa vào lâm sàng, đôi khi phải theo dõi điều trị vài ngày mới biết được chắc chắn.
1.4.2. Chẩn đoán phân biệt:
Giữa viêm mũi dị ứng và viêm mũi vận mạch, các nhiễm trùng đặc hiệu khác như: Viêm mũi giang mai, bạch hầu...
1.5. Điều trị:
Điều trị triệu chứng là chủ yếu:
+ Thuốc làm co niêm mạc hốc mũi có Imidazol, làm khô niêm mạc chống xuất tiết. Không dùng kháng sinh quá sớm ngoại trừ có nhiễm trùng nặng, đe dọa biến chứng, khí dung các thuốc sát trùng, có thể chườm lạnh trên đầu, chiếu tia hồng ngoại...
+ Điều trị nguyên nhân: vẹo, lệch vách ngăn, cuốn mũi quá phát, v. họng, viêm xoang...
+Toàn thân nâng cao thể trạng, sinh tố chống mệt mỏi, đau mình mẩy; nhức đầu nhiều, phải dùng giảm đau, hộ lý cấp I, nghỉ ngơi yên tĩnh...
1.6. Phòng bệnh:
Tắm hơi, kích thích bằng nhiệt, trị liệu bằng hơi nước, thể thao, tránh lạnh đột ngột, nhỏ mũi các dung dịch sát trùng trong vụ dịch và nơi tập trung trẻ nhỏ như nhà trẻ, mẫu giáo, trường học... nâng cao thể trạng, cung cấp thức ăn giàu Vitamin C, vệ sinh mũi họng, nạo VA ở trẻ nhỏ, cắt A, chủng ngừa các loại virus cúm....
II. Viêm mũi mạn tính
Rất phổ biến ở nước ta do khí hậu nóng ẩm, niêm mạc mũi viêm mãn tính sẽ phản ứng tăng tiết nhầy và quá phát.
2.1. Triệu chứng lâm sàng:
Lúc đầu là ngạt mũi một bên, lúc bên nọ khi bên kia, sau đó ngạt liên tục dữ dội cả 2 bên, xuất tiêt ít, nhầy dai dính không màu, ít khi có mủ, có xu hướng phát triển phía mũi sau xuống họng, viêm họng thứ phát, BN hay phải đằng hắng, nói giọng mũi kín, chảy nước mắt, có thể có viêm túi lê, nhức đầu mất ngủ. Lâm sàng có 3 giai đoạn:
2.1.1. Giai đoạn xung huyết đơn thuần:
Ngạt mũi liên tục cả đêm lẫn ngày, xuất tiết ít, khám niêm mạc mũi cuốn mũi to, đỏ, đôi khi tím bầm đặt thuốc co mạch còn co hồi tốt.
2.1.2. Giai đoạn xuất tiết:
Chảy mũi là dấu hiệu cơ bản, nhầy hoặc mủ, chảy hàng tháng, ngạt mũi thường xuyên, giảm hoặc mất khứu giác. Niêm mạc mũi phù nề nhợt nhạt, cuốn mũi nề mọng, đặt thuốc co mạch còn có tác dụng nhưng chậm và tái sưng nề nhanh. Sàn mũi và các khe có chất xuất tiết ứ đọng.
2.1.3. Giai đoạn quá phát:
Là hậu quả của một quá trình quá sản niêm mạc cuốn dưới, tắc mũi liên tục, ngày càng tăng, đặt các loại thuốc co mạch không còn tác dụng, nói giọng mũi kín, thở miệng nên viêm họng mạn tính, giảm hoặc mất khứu giác, xuất tiết ít dần. Khám cuốn dưới quá phát gần sát vách ngăn, cứng sần sùi, màu xám nhạt, đôi khi phát triển phía đuôi cuốn, chỉ soi mũi sau mới thấy.
2.2. Nguyên nhân bệnh sinh:
Tổn thương các tế bào chế nhầy do quá trình liên tục viêm từ: Viêm xoang, nhét mèche mũi, VA quá phát, niêm mạc có rối loạn vận mạch, những kích thích mạn tính như thuốc lá, bụi, nhiệt độ, hóa chất, nấm, bụi kim loại... thói quen dùng ngón tay ngoáy mũi...Hiện nay người ta còn nghĩ do rối loạn nội tiết: Tuyến giáp, thượng thận, đái đường, tim mạch, dị ứng thuốc, dị ứng nhiễm khuẩn, phụ nữ thời kỳ có thai...
2.3.. Chẩn đoán:
2.3.1. Chẩn đoán xác định:
Dựa vào lâm sàng và khám thực thể, các yếu tố thuận lợi gây bệnh. Soi mũi niêm mạc đỏ thẩm hoặc tím xanh, dày hoặc teo...sưng nề cuốn dưới, hốc mũi hẹp. Giai đoạn sau cuốn mũi sần sùi hay thoái hóa Polype thật sự, đặc biệt cuốn giữa quá phát, phủ mũi nhầy...
2.3.2. Chẩn đoán phân biệt:
- Viêm xoang, dị vật, viêm đặc hiệu, VA quá phát, u hạt các tính Granulome, khối u tân sinh...
2.4. Điều trị:
2.4.1. Điều trị nguyên nhân: Xác định nguyên nhân điều trị.
2.4.2. Điều trị triệu chứng: -
Chống tắc mũi: Nhỏ mũi, xông - Chống chảy mũi: Các thuốc săn niêm mạc, co mạch...
2.4.3. Điều trị phẩu thuật:
- Tùy mức độ quá phát mà có thể can thiệp phẩu thuật từ nhẹ tới nặng: Bẻ cuốn, đốt cuốn, cắt cuốn một phần hoặc toàn bộ.
2.4.4. Điều trị bằng thuốc:
Thuốc thay đổi cơ địa, thuốc có lưu huỳnh, iode, photpho, dầu cá, nâng cao thể trạng.
2.5. Phòng bệnh:
Có chế độ phòng hộ ở nhà máy hóa chất, kiêng thuốc lá, giải quyết những gai kích thích, các ổ nhiểm trùng, lệch hình vách ngăn, viêm xoang, luyện thở, tập luyện trong mùa lạnh...
III.Viêm mũi dị ứng
Là bệnh rất phổ biến khoảng 3-7% (châu Âu 5-7%), có xu hướng ngày càng tăng, điều trị khó khăn, thường kết hợp dị ứng mũi xoang, hen... Lâm sàng: Có 2 thể: Viêm mũi dị ứng có chu kỳ và Viêm mũi dị ứng không có chu kỳ.
3.1. Viêm mũi dị ứng có chu kỳ: Điển hình và quan trọng.
3.1.1. Triệu chứng lâm sàng: xuất hiện đột ngột thành cơn, thường khi sáng sớm ngủ dậy, khi thời tiết thay đổi. + Đầu tiên cảm giác ngứa mũi, cay mắt, khó chịu..,
+ Sau đó hắt hơi hàng tràng 5-7 cái 10 cái một lúc, không thể nín được
+ Chảy nước mắt,nước mũi trong như nước lã,vài ngày sau mũi đục do bội nhiễm
+ Ngạt mũi dữ dội, ngạt cả 2 bên, phải thở bằng miệng...
+ Nhức đầu, mệt mỏi, ngứa khắp đầu, có thể viêm đỏ màng tiếp hợp, rối loạn thần kinh thực vật, chán ăn, mệt mỏi, không làm việc được.
3.1.2. Tiến triển và biến chứng: Các cơn trên thường xuất hiện vào buổi trưa và buổi chiều, thưa dần, mỗi đợt vài ngày đến một tuần rồi lui bệnh dù có điều trị hay không.
Nếu kéo dài, nước mũi đặc dần, có màu, niêm mạc sẽ thoái hóa, viêm xoang thật sự, đau vùng xoang tương ứng, chọc xoang ít khi có mủ chỉ nhầy trong hoặc vàng...
3.1.3. Điều trị: Có điều trị nguyên nhân và điều trị triệu chứng.
+ 3.1.3.1. Điều trị nguyên nhân: Giải mẩn cảm đặc hiệu khi tìm được dị ứng nguyên; đổi nghề nếu dị ứng nghề nghiệp.
+ 3.1.3.2. Điều trị triệu chứng: Kháng Histamin: Chlorpheniramin, Prometazinclohydrat, Pipolphen, Prothazin... - Giảm đau hạ sốt - kháng viêm Corticostéroide - Chống ngạt mũi, chảy mũi - Sinh tố và các chất thay đổi cơ địa- Thuốc nam: hút lá cà độc dược...
3.2. Viêm mũi dị ứng không chu kỳ:
+ Triệu chứng giống hệt loại có chu kỳ nhưng không có liên quan thời tiết, mùa nào bệnh cũng có thể xẩy ra. Cơn hắt hơi không kịch phát chỉ vài 3 cái, chủ yếu là ngạt mũi kéo dài, giữa 2 đợt hắt hơi niêm mạc không co lại, vì vậy niêm mạc mũi dễ thoái hóa.
+ Khám niêm mạc mũi nhợt nhạt, các cuốn nề to, thoái hóa, khe giữa đầy polype Xquang: Các xoang mờ, có thể có biến chứng hen phế quản.
+ Chẩn đoán không có gì khó khăn, nhưng chẩn đoán nguyên nhân vô cùng phức tạp. Khai thác tiền sử dị ứng là quan trọng, bố mẹ đều dị ứng thì tỷ lệ các con 60% dị ứng; chỉ bố hoặc mẹ dị ứng thì con là 27%, cả bố mẹ không dị ứng thì con cũng bị 12%.
+ Người ta có thể xét nghiệm tìm tế bào ái toan tăng cao trong nước mũi- Làm điện di miễn dịch tìm IgE trong huyết thanh-Làm test da với nhiều loại kháng nguyên để phát hiện nguyên nhân- Chuyển dạng Lymphô bào- Tìm khả năng cố định Histamin- Định lượng Histamin...Cần chẩn đoán phân biệt với viêm mũi cấp thông thường và viêm mũi vận mạch (không có tiền sử dị ứng, sau cơn BN bình thường...)
+ Điều trị: Nguyên tắc là loại bỏ các ổ nhiễm trùng (lò viêm) như viêm xoang, viêm A, viêm lợi răng... ; Điều trị các Antihistamine; Sử dụng các loại thuốc co mạch giảm phù nề, Trường hợp có thể dùng Corticostéroide, ngaòi ra điều trị triệu chứng do dị ứng mũi xoang gây ra như nhức đầu, kháng sinh nếu có bội nhiễm, ...
Phẩu thuật: Chỉ định khi cuốn mũi quá phát, thoái hóa cuốn thành polype, vẹo vách ngăn...
PTS Nguyễn Tư Thế, SKCĐ